vanban.org

Bản án 19/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc bà Trần Thị H trả cho ông Dương Quốc H 221.479.000 (Hai trăm hai mươi mốt triệu bốn trăm bảy mươi chín nghìn) đồng, trong đó 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng tiền gốc và 21.479.000 (Hai mươi mốt triệu bốn trăm bảy mươi chín nghìn) đồng tiền lãi suất. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp vay tài sả"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2022/DS-ST
Ngày: 18-5-2022
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài
sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Anh Dũng.

Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hồ Văn Tài

2. Bà Trần Thị Kim Tân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa:

Bà Phạm Thị Lý - Kiểm sát viên.

Vào ngày 18 tháng 5 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2022/TLST-DS ngày 07 tháng 01 năm 2022, về “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2022/QĐST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Dương Quốc H, sinh năm: 1978.

Đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố A, thị trấn G, huyện XL, tỉnh Đồng Nai.

Chỗ ở: Số X LTV, phường 3, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Bá Đ, sinh năm: 1988; địa chỉ: A đường số 2, ấp TH, xã XT, huyện XL, tỉnh Đồng Nai. Là đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 03-11-2021).(Có mặt)

- Bị đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm: 1967. (Vắng mặt)

Địa chỉ thường trú: Tổ 5, ấp C, xã SC, huyện XL, tỉnh Đồng Nai.

Hiện đang tạm giam tại: Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 30-11-2021, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn ông Lê Bá Đ trình bày:

Vào ngày 12-11-2020, bà Trần Thị H vay của ông Dương Quốc H 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng, thời hạn đến ngày 22-4-2021, bà H có viết giấy. Đến hạn trả nợ, bà Trần Thị H không thanh toán. Ngày 30-11-2021, ông Dương Quốc H khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc yêu cầu bà Trần Thị H trả 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng tiền gốc và tiền lãi 10%/năm, từ ngày 22-4-2021 đến ngày xét xử sơ thẩm.

Ngoài ra, ông không còn yêu cầu gì khác.

- Bị đơn bà Trần Thị H trình bày:

Bà thừa nhận sự việc vay tiền như đại diện nguyên đơn trình bày, bà còn nợ ông Dương Quốc H 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng tiền gốc. Bà chấp nhận trả cho Dương Quốc H 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng tiền gốc, không chấp nhận trả lãi. Đây là khoản nợ riêng của bà, không liên quan đến chồng bà vì việc vay tiền này chồng bà không biết, nên tự một mình bà trả.

Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân nhân dân huyện Xuân Lộc: Về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và sự chấp hành pháp luật của các đương sự cơ bản đúng pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 357, Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn buộc bà Trần Thị H trả cho ông Dương Quốc H 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng số tiền nợ gốc và lãi suất theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Xác định quan hệ pháp luật là: “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản”; bị đơn (bà Trần Thị H) ở xã SC, huyện XL, tỉnh Đồng Nai, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.

Về tư cách tham gia tố tụng:

Ông Dương Quốc H khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị H trả tiền nợ vay quá hạn, không yêu cầu chồng bà cùng liên đới trả nợ, vậy ông Dương Quốc H là nguyên đơn; bà Trần Thị H là bị đơn.

Về thủ tục tố tụng:

Bà Trần Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, nên áp dụng Khoản 1, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà.

Xét yêu cầu của của nguyên đơn:

Ông Dương Quốc H và bà Trần Thị H thống nhất: Bà Trần Thị H có vay tiền của ông Dương Quốc H hiện còn nợ 200.000.000 đồng tiền gốc, thời hạn đến ngày 22-4-2021 nên áp dụng Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, công nhận đây là sự thật.

Ông Dương Quốc H yêu cầu bà Trần Thị H trả 200.000.000 đồng tiền gốc, bà Trần Thị H chấp nhận là phù hợp quy định của pháp luật nên ghi nhận.

Đối với khoản lãi suất: Ông Dương Quốc H yêu cầu bà Trần Thị H trả lãi suất 10%/năm, tính từ ngày 22-4-2021, đến ngày xét xử sơ thẩm (18-5-2022), là phù hợp quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự nên chấp nhận. Từ ngày 22-4-2021 đến ngày 18-5-2022 là 01 năm 27 ngày, như vậy khoản tiền lãi là 200.000.000 đồng x 10%/năm x 01 năm 27 ngày = 21.479.000 đồng.

Về án phí:

Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ, nên bà Trần Thị H phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền các bên tranh chấp 221.479.000 đồng x 5% = 11.073.000đồng.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc về việc giải quyết vụ án phù hợp tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ và sự nhận định trên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39; Khoản 1, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ các điều 357, 463, 466, 468 và Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc bà Trần Thị H trả cho ông Dương Quốc H 221.479.000 (Hai trăm hai mươi mốt triệu bốn trăm bảy mươi chín nghìn) đồng, trong đó 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng tiền gốc và 21.479.000 (Hai mươi mốt triệu bốn trăm bảy mươi chín nghìn) đồng tiền lãi suất.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ông Dương Quốc H (Sau khi án có hiệu lực pháp luật), bà Trần Thị H phải chịu lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành.

2. Về án phí:

Bà Trần Thị H phải nộp 11.073.000 (Mười một triệu không trăm bảy mươi ba nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho ông Dương Quốc H 5.290.000 (Năm triệu hai trăm chín mươi nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí, ông đã nộp theo Biên lai thu số 0006014 ngày 14-12-2021, của Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc.

3. Về quyền kháng cáo:

Ông Dương Quốc H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án; bà Trần Thị H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ