vanban.org

Bản án 19/2022/DS-ST — Tranh chấp đất đai

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn C và bà Nguyễn Lệ B; buộc bị đơn ông Phạm Như T và bà Phan Thị Kim L phải tháo dỡ tường nhà, tường rào và mái che đã xây dựng lấn chiếm để trả lại cho ông Nguyễn C và bà Nguyễn Lệ B phần diện tích 07m2 đất (Theo sơ đồ hiện trạ…

Vị trí, kích thước tường nhà, tường rào và mái che đã xây dựng lấn chiếm với diện tích 0,7m2 đất phải tháo dỡ có đặc điểm cụ thể như sau: Phía Đông giáp phần đất còn lại của ông C, bà B, có chiều dài 16,05m (4,53m + 5,63m + 5,89m); Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai — án dân sự — "Nguyễn Cường, Nguyễn Lê Bình và Phạm Như Tính, Phạm Thị Kim Loan"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn C và bà Nguyễn Lệ B; buộc bị đơn ông Phạm Như T và bà Phan Thị Kim L phải tháo dỡ tường nhà, tường rào và mái che đã xây dựng lấn chiếm để trả lại cho ông Nguyễn C và bà Nguyễn Lệ B phần diện tích 07m2 đất (Theo sơ đồ hiện trạ…
  • Căn cứ chính? Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Luật Đất đai; Điều 170 Luật Đất đai
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2022/DS-ST.
Ngày 20/7/2022.
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tạ Minh Khôi.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Chương và ông Nguyễn Minh Đức.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Việt Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Lê Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 84/2021/TLST-DS ngày 25 tháng 10 năm 2021 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2022/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn C và bà Nguyễn Lệ B; cùng địa chỉ: Số L611 Quốc lộ Z, Khu phố X, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị - Có mặt.

- Bị đơn: Ông Phạm Như T và bà Phan Thị Kim L (Phan Thị L); cùng địa chỉ: Số T đường Hàm N, Khu phố Q, Phường W, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại đơn khởi kiện ngày 06/12/2019, biên bản hòa giải ngày 12/5/2020 và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn C và bà Nguyễn Lệ B trình bày:

Ông Nguyễn C và bà Nguyễn Lệ B được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Trị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CT 928973 ngày 19/11/2020, tại thửa đất số 192, tờ bản đồ số 21, diện tích 99m2; địa chỉ thửa đất: Kiệt 50 đường Hàm N, khu phố Q, Phường W, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị sát nhà ông T, bà L.

Quá trình sử dụng đất, ông Phạm Như T và bà Phan Thị Kim L đã làm quán xây dựng lấn chiếm sang phần diện tích đất của ông C, bà B. Tuy ông C, bà B đã nhiều lần trực tiếp đến nhà ông T, bà L trao đổi, bàn bạc yêu cầu ông T, bà L tháo dỡ phần diện tích xây dựng lấn chiếm để trả lại cho ông C, bà B, nhưng ông T, bà L không đồng ý. Tranh chấp đất giữa ông C, bà B với ông T, bà L cũng đã được UBND Phường 1, thành phố Đông Hà tiến hành hòa giải nhưng không có kết quả. Theo kết quả đo đạc của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đông Hà ngày 08/12/2021, thì ông T, bà L đã xây quán lấn chiếm sang phần diện tích đất của gia đình ông C, bà B về hướng Tây với diện tích 07m2, về hướng Nam với diện tích 01m2.

Tại phiên tòa, ông Nguyễn C và bà Nguyễn Lệ B yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Phạm Như T và bà Phan Thị Kim L phải tháo dỡ toàn bộ phần diện tích đã xây dựng lấn chiếm về hướng Tây với diện tích 07m2 đất để trả lại cho ông C, bà B. Còn phần ông T, bà L xây dựng lấn chiếm về hướng Nam với diện tích 01m2, ông C, bà B rút không yêu cầu giải quyết.

2. Tại đơn trình bày ý kiến ngày 10/11/2021, biên bản hòa giải ngày 18/01/2021, bị đơn ông Phạm Như T và bà Phan Thị Kim L trình bày:

Năm 1996, mẹ tôi tức là bà Nguyễn Thị Đ có chuyển nhượng cho bà Nguyễn Lệ B lô đất rộng 06m, dài 16m, phía Đông giáp nhà ông Q, ông G, ông L; phía Bắc giáp đường quy hoạch; phía Tây và phía Nam giáp với đất của gia đình bà Nguyễn Thị Đ (lúc này chưa có mương thủ lợi chạy dọc theo lô đất của bà B và các hộ ông Q, ông G và ông L). Căn cứ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị Đ được UBND tỉnh cấp ngày 18/9/2000 do ông Lê Hữu Phúc, phó Chủ tịch UBND tỉnh ký.

Do đất ông C, bà B để lâu ngày không xây dựng nên khi gia đình ông L xây nhà tôi có nhắn cho gia đình ông C, bà B về để xem lại đất đai tránh tranh chấp về sau, nhưng gia đình ông C, bà B không đến dẫn đến tình trạng cấp đất chồng chéo làm cho thửa đất của ông C, bà B không còn nguyên trạng như lúc bà Nguyễn Thị Đ chuyển nhượng đất cho gia đình ông C, bà B.

Ngày 06/01/2014, tôi (Phan Thị Kim L) được UBND thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BP 071380, thửa đất số 139 (123a), tờ bản đồ số 21, diện tích 330m2, đất ở đô thị tại khu phố 4, Phường 1, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị và tôi đã xây dựng nhà ở ổn định. Khi làm nhà bà L, ông T đã liên lạc cho ông C, bà B xuống thực địa để kiểm tra cụ thể nhưng ông C, bà B không xuống. Vì vậy, ông T, bà L đã xây dựng thu lại công trình phía sau tiếp giáp đất của ông C, bà B chỉ còn lại 3,5m và tiến hành xây dựng móng nhà có sự chứng kiến của gia đình ông C, bà B nên ông T, bà L không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C, bà B.

3. Về nguồn gốc của các thửa đất tranh chấp:

Đối với đất ông Nguyễn C và bà Nguyễn Lệ B: Vào năm 1996, sau khi nhận chuyển nhượng đất từ bà Nguyễn Thị Đ (mẹ của bà Phan Thị Kim L) với diện tích 96m2 để làm nhà ở. Năm 2003, ông C, bà B làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được UBND thị xã Đông Hà (nay là thành phố Đông Hà) cấp đất cho hộ gia đình ông C, bà B với diện tích 99m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: W 830815 ngày 27/01/2003, thửa đất số 123a, tờ bản đồ số 21, diện tích 99m2 đất ở; địa chỉ thửa đất: Khu phố 4, Phường 1, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị. Ngày 19/11/2020, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Trị đã cấp đổi lại theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT 928973 tại thửa số 192, tờ bản đồ số 21, diện tích 99m2; địa chỉ thửa đất: Khu phố 4, Phường 1, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị mang tên ông Nguyễn C và bà Nguyễn Lệ B, sau khi được cấp đổi, diện tích, kích thước của thửa đất không thay đổi.

Đối với đất của bà Phan Thị Kim L: Ngày 03/6/2008 được UBND thị xã Đông Hà (nay là thành phố Đông Hà) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa số 123a, tờ bản đồ số 21, diện tích 330m2; địa chỉ thửa đất: Khu phố 4, Phường 1, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị mang tên Phan Thị L theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Al 105331. Ngày 06/01/2014 đã được UBND thành phố Đông Hà cấp đổi lại theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 071380, thửa số 193 (123a), tờ bản đồ số 21, diện tích 330m2; địa chỉ thửa đất: Khu phố 4, Phường 1, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị mang tên Phan Thị Kim L, sau khi được cấp đổi, không có thay đổi gì về diện tích, kích thước. Nguồn gốc của thửa đất là do bà Nguyễn Thị Đ (mẹ đẻ) tặng cho.

4. Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và sơ đồ hiện trạng ranh giới thửa đất, thì phần diện tích đất đang tranh chấp đƣợc xác định:

Đối với phần diện tích đất đang tranh chấp về hướng Tây hiện ông T, bà L đã xây tường nhà cấp 4 dài 10,16m và tường rào dài 5,89 m, đang chiếm hữu, sử dụng với diện tích 07m2. Có kích thức, vị trí, đặc điểm cụ thể như sau:

- Phía Đông giáp đất ông C, bà B, có chiều dài 16,05m (4,53m + 5,63m + 5,89m)

- Phía Tây giáp đất bà Phan Thị Kim L, có chiều dài 16.01m;

- Phía Nam giáp phần đất còn lại của ông C, bà B, có chiều rộng 0,13m;

- Phía Bắc giáp Kiệt 50 đường Hàm Nghi (đường giao thông) có chiều rộng 0,62m.

Toàn bộ phần diện tích 07m2 đất mà ông T, bà L đã xây tường nhà, tường rào và mái che đều nằm trong phần diện tích đất đã được Nhà nước cấp cho ông C, bà B theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT 928973 ngày 19/11/2020 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Trị.

5. Y kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đảm bảo, thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, phía bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 244 BLTTDS, Điều 166, 170, 203 Luật Đất đai năm 2013, Điều 175 BLDS 2015 tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn ông Phạm Như T và bà Phan Thị Kim L tháo dở một phần công trình đã xây dựng (gồm tường rào và ngôi nhà cấp 4) trả lại diện tích đất đã lấn chiếm phía trước là 07m2; đình chỉ đối với phần yêu cầu khởi kiện buộc ông Phạm Như T và bà Phan Thị Kim L trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm phía sau là 01m2.

- Về án phí: Buộc bị đơn phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, do đó Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, bị đơn ông T, bà L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 3, nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự là đúng quy định của pháp luật.

. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông C, bà B yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông T, bà L phải tháo dỡ tường nhà, tường rào, mái che xây dựng lấn chiếm trên phần diện tích đất của ông C, bà B. Còn ông T, bà L, không chấp nhận tháo dỡ để trả lại đất cho ông C, bà B. Sự việc tranh chấp đã được UBND Phường 1 hòa giải nhưng không thành nên ông C, bà B khởi kiện. Do đó, về quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định là “Tranh chấp quyền sử dụng đất” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà theo quy định tại khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 203 Luật đất đai.

. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông C, bà B yêu cầu bị đơn ông T, bà L phải tháo dỡ toàn bộ tường nhà, tường rào, mái che đã xây dựng lấn chiếm về hướng Tây với diện tích 07m2 đất để trả lại đất cho ông C, bà B, xét thấy:

Năm 1996, bà Nguyễn Thị Đ đã chuyển nhượng cho bà Nguyễn Lệ B lô đất có diện tích 96m2, tại thời điểm nhận chuyển nhượng bà Nguyễn Thị Đ chưa có Giấy tờ hợp pháp về quyền sử dụng đất đến năm 2000, bà Nguyễn Thị Đ mới được UBND tỉnh Quảng Trị cấp đất theo Quyết định số 1551/QĐ-UB ngày 18/9/2000 với diện tích 774,0m2. Sau khi bà Đ được cấp đất thì đến năm 2003 ông C, bà B làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Căn cứ vào đơn xin chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng đất của bà B và bà Đ lập ngày 29/9/1996, đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất ngày 31/12/2002, đơn xin tách thửa ngày 22/12/2002, Biên bản xét duyệt Hội đồng đăng ký đất đai ngày 04/01/2003 và Biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất năm 2000 (biên bản xác định phần diện tích đất bà Đ chuyển nhượng là 99,1m2). Do đó, ngày 27/01/2003, UBND thị xã Đông Hà (nay là thành phố Đông Hà) đã cấp đất cho hộ ông Nguyễn C và bà Nguyễn Lệ B theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: W 830815 ngày 27/01/2003 tại thửa số 123a, tờ bản đồ số 21, diện tích 99m2 đất ở; địa chỉ thửa đất: Khu phố 4, Phường 1, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị. Đến ngày 19/11/2020, trên cơ sở văn bản cam kết về tài sản của các thành viên trong hộ gia đình lập ngày 13/11/2020, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Trị đã cấp đổi lại theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT 928973 tại thửa số 192, tờ bản đồ số 21, diện tích 99m2; địa chỉ thửa đất: Khu phố 4, Phường 1, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị mang tên ông Nguyễn C và bà Nguyễn Lệ B. Sau khi được cấp đổi, phần diện tích, kích thước của thửa đất không thay đổi. Chính vì vậy, thửa số 192, tờ bản đồ số 21, diện tích 99m2; tại địa chỉ: Khu phố 4, Phường 1, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Nguyễn C và bà Nguyễn Lệ B.

Theo Biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất theo hiện trạng sử dụng đất được UBND Phường 1, thị xã Đông Hà (nay là thành phố Đông Hà) lập vào năm 2002 đã được các hộ liền kề trong đó có bà Nguyễn Thị Đ và bà Phan Thị Kim L (Phan Thị L) ký xác nhận cho thấy: Thửa đất mà ông C, bà B được UBND thị xã Đông Hà cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 27/01/2003 và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Trị cấp đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 19/11/2020 có diện tích, kích thước đúng với ranh giới, mốc giới theo hiện trạng sử dụng đất lập năm 2002, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ông C, bà B được cấp cho thấy, giáp với thửa đất của ông C, bà B về phía Đông là mương nước có chiều rộng giáp với đường khu vực là 0,7m, và chiều rộng phía sau là 0,4m.

Căn cứ vào Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ lập ngày 08/12/2021 và sơ đồ hiện trạng ranh giới thửa đất lập ngày 22/12/2021 cho thấy: Năm 2014, ông T, bà L đã xây dựng quán mái lợp tôn thuộc loại nhà cấp IV để kinh doanh, không có Giấy phép xây dựng và đã xây dựng không đúng với phần diện tích đất được nhà nước giao, ông T, bà L xây dựng tường nhà, tường rào và mái che về phía Đông lấn sang phần diện tích đất phía Tây của ông C, bà B với diện tích 07m2, cụ thể: Phần xây dựng lấn chiếm có vị trí, đặc điểm như sau:

- Phía Đông giáp phần đất còn lại của ông C, bà B, có chiều dài 16,05m (4,53m + 5,63m + 5,89m);

- Phía Tây giáp đất bà Phan Thị Kim L, có chiều dài 16.01m;

- Phía Nam giáp phần đất còn lại của ông C, bà B, có chiều rộng 0,13m;

- Phía Bắc giáp Kiệt 50 đường Hàm Nghi (đường giao thông), có chiều rộng 0,62m.

Việc ông T, bà L xây dựng tường nhà, tường rào và mái lấn chiếm sang phần diện tích đất mà Nhà nước đã giao cho ông C, bà B có quyền sử dụng là đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông C, bà B, ảnh hưởng đến việc sử dụng đất và giá trị của thửa đất mà Nhà nước đã giao cho ông C, bà B sử dụng và ảnh hưởng đến vấn đề quy hoạch của Nhà nước về việc sử dụng đất.

Quá trình giải quyết vụ án ông T, bà L cho rằng: Do đất ông C, bà B để đất lâu ngày không xây dựng nên khi gia đình ông Long xây nhà, gia đình ông C, bà B không đến kiểm tra dẫn đến tình trạng nhà nước cấp đất chồng chéo làm cho thửa đất của ông C, bà B không còn nguyên trạng như lúc bà Nguyễn Thị Đ giao đất cho gia đình bà B là không có căn cứ.

Tại công văn số 204/CVĐH-KTĐC ngày 19/4/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đông Hà cho biết: Theo kết quả cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cũng như khi được cấp đổi thì ranh giới quyền sử dụng đất giữa ông C, bà B với bà L là tiếp giáp, trùng nhau, không chồng lấn lên nhau. Đối với việc thể hiện kích thước mương thủy lợi: Qua kiểm tra dữ liệu số hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thấy, kích thước mương nước giáp đường rộng 0,7m và rông 0,4m về phía sau, như kích thước đã thể hiện trên sơ đồ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông C, bà B. Đoạn sau cùng của mương nước có kích thước 0,3m. Như vậy, việc thể hiện mương nước rộng 0,3m tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 071380 cấp cho bà Phan Thị Kim L là sai sót do biên tập.

Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn C và bà Nguyễn Lệ B, buộc bị đơn ông Phạm Như T và bà Phan Thị Kim L phải tháo dỡ toàn bộ phần diện tích đất xây dựng lấn chiếm để trả lại cho ông C, bà B với diện tích 0,7m2 đất.

. Đối với yêu cầu của nguyên đơn ông C, bà B khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông T, bà L tháo dỡ phần diện tích đã xây dựng lấn chiếm về hướng Nam 01m2. Tại phiên tòa, ông C, bà B rút không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử đình chỉ không xem xét giải quyết.

. Về chi phí thẩm định: Để đảm bảo cho yêu cầu khởi kiện của mình, nguyên đơn ông C, bà B đã chi phí toàn bộ cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền 2.212.000 đồng và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận. Vì vậy, cần buộc bị đơn ông T, bà L phải hoàn lại chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ cho ông C, bà B số tiền 2.212.000 đồng.

. Về án phí: Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 158, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 166, khoản 1 Điều 170 và Điều 203 Luật đất đai; điểm a khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn C và bà Nguyễn Lệ B; buộc bị đơn ông Phạm Như T và bà Phan Thị Kim L phải tháo dỡ tường nhà, tường rào và mái che đã xây dựng lấn chiếm để trả lại cho ông Nguyễn C và bà Nguyễn Lệ B phần diện tích 07m2 đất (Theo sơ đồ hiện trạng ranh giới thửa đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị lập ngày 22/12/2021).

Vị trí, kích thước tường nhà, tường rào và mái che đã xây dựng lấn chiếm với diện tích 0,7m2 đất phải tháo dỡ có đặc điểm cụ thể như sau:

- Phía Đông giáp phần đất còn lại của ông C, bà B, có chiều dài 16,05m (4,53m + 5,63m + 5,89m);

- Phía Tây giáp đất bà Phan Thị Kim L, có chiều dài 16.01m;

- Phía Nam giáp phần đất còn lại của ông C, bà B, có chiều rộng 0,13m;

- Phía Bắc giáp Kiệt 50 đường Hàm Nghi (đường giao thông), có chiều rộng 0,62m.

2. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn C và bà Nguyễn Lệ B (do nguyên đơn ông C, bà B rút một phần yêu cầu khởi kiện) đối với phần diện tích đất tranh chấp 01m2 đất về hướng Nam.

3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Buộc ông Phạm Như T và bà Phan Thị Kim L phải hoàn trả cho ông Nguyễn C và bà Nguyễn Lệ B số tiền 2.212.000 đồng (Hai triệu hai trăm mười hai nghìn đồng).

4. Về án phí:

- Buộc ông Phạm Như T và bà Phan Thị Kim L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Ông Nguyễn C và bà Nguyễn Lệ B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho ông Nguyễn C và bà Nguyễn Lệ B số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: CC/2021/0000025 ngày 25/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

5. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- TAND tỉnh Quảng Trị;

- VKSND thành phố Đông Hà;

- Chi cục THADS thành phố Đông Hà;

- Các đương sự;

- Lưu: HSVA, DA.

Tạ Minh Khôi

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hữu Chƣơng

Võ Thị Trúc Mai

Tạ Minh Khôi

Áp dụng khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 158, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 166, khoản 1 Điều 170 và Điều 203 Luật đất đai năm 2013; điểm a khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Nguyệt; Buộc ông Nguyễn Tiến Dũng và bà Đoàn Thị Kim Hoa tháo dỡ phần tường rào phía sau nhà để trả lại cho bà Nguyễn Thị Nguyệt phần diện tích 3,9 m2 đất theo hiện trạng của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CK 402066 mà ông Phan Ngọc Rạng và bà Nguyễn Thị Nguyệt đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Trị cấp ngày 12/12/2017. Vị trí, kích thước tường rào xây dựng lấn chiếm 3,9 m2 đất phải tháo dỡ có đặc điểm cụ thể như sau:

- Cạnh chiều dài phía Đông giáp đất nhà bà Nguyệt có chiều dài 4,32m;

- Cạnh chiều rộng phía Nam giáp đất ông Đoàn Viết Dũng có chiều rộng 0,88m + 0,13m;

- Cạnh chiều rộng phía Bắc giáp phần đất của bà Nguyệt có chiều rộng 0,45m + 0,3m.

2. Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Nguyệt (Do bà Nguyện rút yêu cầu khởi kiện) đối với phần diện tích đất tranh chấp phía trước 1.9m2 đất.

3. Về án phí: Buộc ông Nguyễn Tiến Dũng, bà Đoàn Thị Kim Hoa phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Buộc ông Nguyễn Tiến Dũng và bà Đoàn Thị Kim Hoa phải hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Nguyệt số tiền 2.474.000 đồng.

5. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- TAND tỉnh Quảng Trị;

- VKSND thành phố Đông Hà;

- Chi cục THADS thành phố Đông Hà;

- Các đương sự;

- Lưu: HSVA, DA.

Tạ Minh Khôi

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TỈNH QUẢNG TRỊ

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ

Số: 22/PB-VKS-DS

Đông Hà, ngày 20 tháng 7 năm 2022

PHÁT BIỂU

Của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm giải quyết vụ án dân sự

Căn cứ Điều 27 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014;

Căn cứ Điều 21, Điều 58, Điều 369 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 28 Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 31/8/2016 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định việc phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân trong việc thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Hôm nay, Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà mở phiên tòa sơ thẩm giải quyết vụ án dân sự về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn C và bà Nguyễn Lệ B

Cùng địa chỉ: Số 611 Quốc lộ 9, khu phố 4, phường 4, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

- Bị đơn: Ông Phạm Như T và bà Phan Thị Kim L

Cùng địa chỉ: Số 50/01 đường Hàm Nghi, khu phố 4, phường 1, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

Qua nghiên cứu hồ sơ việc hôn nhân và gia đình, kết quả kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà và tham gia phiên tòa sơ thẩm hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà phát biểu ý kiến như sau:

I. VỀ VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG

1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán

- Về quan hệ tranh chấp: Tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp đất đai theo quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về thẩm quyền thụ lý vụ án: Theo quy định tại Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS thì Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà có thẩm quyền thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

- Việc xác định tư cách tham gia tố tụng: Tòa án xác định tư cách tham gia tố tụng của nguyên đơn là ông Nguyễn C và bà Nguyễn Lệ B; xác định bị đơn là ông Phạm Như T và bà Phan Thị Kim L là đúng theo Điều 68 BLTTDS.

- Về thu thập chứng cứ: Qúa trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và đối chất theo đúng quy định.

- Về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được Thẩm phán tuân thủ các Điều 208, 209, 210, 211 BLTTDS về thông báo, thành phần, trình tự tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thẩm phán cũng đã thông báo đầy đủ cho các đương sự.

- Về thời hạn chuẩn bị xét xử: Đúng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 203 BLTTDS.

2. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử

Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, cụ thể:

- Nguyên tắc xét xử: Đúng theo Điều 225 Bộ luật Tố tụng dân sự (Xét xử trực tiếp bằng lời nói).

- Thành phần hội đồng xét xử, sự có mặt của hội đồng xét xử đúng theo Điều 11, 12, 14 BLTTDS gồm 01 thẩm phán và 02 Hội thẩm nhân dân.

- Thủ tục phiên tòa: Diễn ra đúng theo quy định của pháp luật.

3. Việc tuân theo pháp luật của Thƣ ký phiên tòa

Tại phiên tòa hôm nay, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự, cụ thể:

- Chuẩn bị các công tác nghiệp vụ cần thiết trước khi khai mạc phiên tòa.

- Phổ biến nội quy phiên tòa.

- Kiểm tra và báo cáo với Hội đồng xét xử danh sách những người được triệu tập.

- Ghi biên bản phiên tòa đầy đủ.

4. Việc chấp hành pháp luật của ngƣời tham gia tố tụng

- Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

II. VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án dân sự có thể xác định:

Ngày 27/01/2003, hộ bà Nguyễn Lệ B và ông Nguyễn C được UBND thị xã (nay là thành phố) Đông Hà cấp giấy CNQSD đất số W 830815 theo Quyết định số 210/QĐ-UB, tại thửa số 123a, tờ bản đồ 21, tại địa chỉ khu phố 4, phường 1, thị xã Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, diện tích 99m2, chiều dài các cạnh như sau: cạnh phía tây (giáp đất hộ Nguyễn Thị Đào) dài 16,01m; cạnh phía đông (giáp mương nước) dài 11,44m+4,58m; cạnh phía bắc (giáp đường khu vực) dài 6m; cạnh phía nam (giáp đất hộ Nguyễn Thị Đào) dài 6m. Ngày 19/11/2020, ông Nguyễn C và bà Nguyễn Lệ B được Sở Tài nguyên và Môi trường cấp đổi giấy CNQSD đất số CT 928973, tại thửa đất số 192, tờ bản đồ số 21, tại địa chỉ khu phố 4, phường 1, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, diện tích 99m2.

Ngày 03/6/2008, bà Phan Thị Kim L được UBND thành phố Đông Hà cấp giấy CNQSD đất số AL 105331, tại thửa số 123a, tờ bản đồ 21, tại địa chỉ khu phố 4, phường 1, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, diện tích 330. Ngày 06/01/2014, được UBND thành phố Đông Hà cấp đổi giấy CNQSD đất số BP 071380, tại thửa đất số 193, tờ bản đồ số 21, tại địa chỉ khu phố 4, phường 1, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, diện tích 330m2. Nguồn gốc thửa đất là nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị Đào (mẹ đẻ của bà L).

Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 08/12/2021 của TAND thành phố Đông Hà và kết quả đo đạc của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Quảng Trị - chi nhanh thành phố Đông Hà thì vị trí của diện tích đất đang có tranh chấp cụ thể như sau:

- Đối với phần diện tích đất tranh chấp phía trước gồm ngôi nhà cấp 4 và tường rào được xây dựng bằng bờ lô xi măng, có đặc điểm: phía Đông giáp với thửa đất nhà ông Nguyễn C, bà Nguyễn Lệ B; phía Tây giáp với thửa đất của ông Phạm Như T, bà Phan Thị Kim L; phía Nam giáp với thửa đất của ông Nguyễn C, bà Nguyễn Lệ B; phía Bắc giáp với kiệt 50 Hàm Nghi, khu phố 4, phường 1, thành phố Đông Hà. Phần đất này có diện tích là 07m2.

- Đối với phần diện tích đất tranh chấp phía sau: phía Đông giáp với tường nhà ông Long; phía Tây giáp với tường nhà ông T, bà L; phía Nam giáp với đất ông T, bà L; phía Bắc giáp với đất ông C, bà B. Phần đất này có diện tích là 01m2.

Phần đất đang tranh chấp trên thuộc giấy CNQSD đất của ông C, bà B và nằm trong hiện trạng sử dụng đất của ông T, bà L.

Tại Công văn số 204/CNĐH-KTĐC ngày 19/4/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Quảng Trị - chi nhánh thành phố Đông Hà trả lời Tòa án có nội dung: Theo kết quả cấp giấy CNQSD đất lần đầu cũng như khi đã được cấp đổi, ranh giới giữa ông C và bà B với bà L là tiếp giáp trùng nhau, không chồng lấn lên nhau. Đối với việc thể hiện kích thước mương thủy lợi, tại giấy CNQSD đất của ông C và bà B ghi kích thước đoạn tiếp giáp đường rộng 0,7m, kích thước đoạn phía sau rộng 0,4m. Tại giấy CNQSD đất của bà L thể hiện kích thước toàn bộ mương nước là 0,3m; qua hình thể thể hiện trên giấy CNQSD đất nhận thấy hình ảnh mương nước không đều nhau, phía giáp đường rộng, hẹp dần về phía sau; kiểm tra dữ liệu số hồ sơ cấp giấy CNQSD đất cho thấy kích thước mương nước giáp đường rộng 0,7m phía đường, rộng 0,4m ở phía sau như kích thước đã thể hiện trên sơ đồ giấy CNQSD đất của ông C và bà B, đoạn sau cùng của mương nước có kích thước 0,3m. Như vậy, thể hiện kích thước mương nước rộng 0,3m tại giấy CNQSD đất số BP 071380 của bà L là có sai sót do biên tập.

Như vậy, có căn cứ để khẳng định việc ông T, bà L sử dụng không đúng ranh giới được cấp giấy CNQSD đất, chồng lấn lên phần diện tích nằm trong giấy CNQSD đất của ông C, bà B. Tại phiên tòa, nguyên đơn xin rút yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm phía sau là 01m2 nên không xem xét. Đối với yêu cầu buộc ông T, bà L trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm phía trước diện tích 07m2 có cơ sở nên cần chấp nhận.

Trên phần diện tích đất đang tranh chấp phía trước hiện có 01 ngôi nhà cấp 4, mái lợp tôn, có 01 tường rào phía trước được xây bằng bờ lô. Những tài sản trên là do ông T, bà L xây dựng trên phần đất thuộc quyền sử dụng của ông C, bà B, do đó, cần buộc ông T, bà L phải tháo dở những tài sản trên để trả lại diện tích đất đã lấn chiếm cho ông C, bà B.

Vì các lẽ trên,

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 244 BLTTDS, Điều 166, 170, 203 Luật Đất đai năm 2013, Điều 175 BLDS 2015 tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông Phạm Như T và bà Phan Thị Kim L tháo dở một phần công trình đã xây dựng (gồm tường rào và ngôi nhà cấp 4) và trả lại diện tích đất đã lấn chiếm phía trước là 07m2; đình chỉ đối với phần yêu cầu khởi kiện buộc ông Phạm Như T và bà Phan Thị Kim L trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm phía sau là 01m2.

Về án phí: Bị đơn phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trên đây là ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà về việc tuân theo pháp luật tố tụng và giải quyết vụ án dân sự nêu trên./.

Cỡ chữ