vanban.org

Bản án 19/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 29/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

TUYÊN BỐ: Lê Hữu T, phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

XỬ PHẠT: Lê Hữu T 12(Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án. ÁP DỤNG: Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hữu T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? TUYÊN BỐ: Lê Hữu T, phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2021/HSST
Ngày: 29/3/2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ÔNG LÊ VĂN XÔ.

Các Hội thẩm nhân dân.

1/ ÔNG LA MINH CÔNG.

2/ ÔNG HOÀNG VÂN.

Thư ký phiên tòa: BÀ PHẠM THỊ NGỌC HIẾU – Thư ký Tòa án nhân dân huyện H tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: ÔNG TRẦN DUY NGUYÊN – kiểm sát viên.

Ngày 29/3/2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 19/2021/HSST ngày 02/3/2021; Quyết định xét xử số 17/2021/QĐXXST-HS ngày 15/3/2021 đối với bị cáo:

LÊ HỮU T - Sinh năm 1998, tại Bình Thuận.

Nơi ĐKHKTT và chổ ở hiện nay: thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không

Trình độ văn hóa: 3/12; Nghề nghiệp: làm nông.

Tiền án; Tiền sự: không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay.

Con ông: Lê Thanh T - 1968 và bà: Võ Thị B - 1971.

Anh chị em ruột: 04 người; lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất là bị cáo.

V ; con: Có 01 người con tên Lê Khánh Đ – sinh ngày 15/8/2017 với chị Nguyễn Thị Ngọc T – 1996.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Những ngƣời tham gia tố tụng:

- Ngƣời chứng kiến:

1/NCK1 – 1997.

2/NCK2 - 2002

Cùng trú tại: Thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận (tất cả vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đối với hành vi của bị cáo Lê Hữu T đư c tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ ngày 23/12/2020, Lê Hữu T điều khiển xe mô tô đi từ chỗ làm thuộc xã T, thị xã L về nhà tại xã T, huyện H. Trên đường về T gặp một người bạn (hiện không xác định đư c lai lịch cụ thể) rủ sử dụng ma tuý (T là đối tư ng nghiện ma túy) thì T đồng ý nên T cùng người bạn đi đến khu vực bãi đất trống tại khu vực bến Dinh thuộc xã T, thị xã L sử dụng ma tuý. Sử dụng ma tuý đư c một lúc thì T nói về nên bạn của T cho T 01 gói nilon trong suốt kích thước (01x2,5)cm, bên trong có chứa ma túy và 01 nỏ thủy tinh, bên trong còn một ít ma túy mang về để sử dụng, T liền giấu gói ma túy vào quần lót T đang mặc và nỏ thủy tinh vào sau cổ áo rồi điều khiển xe ra về. Đến khoảng 01 giờ 40 phút ngày 24/12/2020, khi T về đến thôn H, xã T, huyện H thì bị lực lư ng Công an huyện H phối h p cùng Công an xã T phát hiện, bắt quả tang, thu giữ gói ma túy và nỏ thủy tinh, bên trong có chứa ma túy mà T đang giấu trên người. Lư ng ma tuý trong nỏ thuỷ tinh đư c lực lư ng Công an bóc tách, cho vào gói nilon trong suốt, kích thước (2,5x2,5)cm và niêm phong theo quy định.

Tại Bản kết luận giám định số 1416/KLGĐ-PC09 ngày 29/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận, kết luận: chất tinh thể trong gói nilon và trong nỏ thủy tinh thu giữ đư c của Lê Hữu T là Methamphetamine, có khối lư ng lần lư t là 0,0834 gam và 0,0414 gam. Như vậy, tổng khối lư ng ma tuý thu giữ của Lê Hữu T là: 0,1248 gam.

Vật chứng vụ án thu giữ gồm:

01 gói nilon trong suốt kích thước (01x2,5)cm và 0,0630 gam Methamphetamine; 01 gói nilon trong suốt kích thước (2,5x2,5)cm và 0,0234 gam Methamphetamine đư c hoàn lại sau giám định; 01 nỏ thuỷ tinh (tình trạng bị vỡ).

Hiện trạng vật chứng trên theo biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 25/3/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H.

Tại bản cáo trạng số 22/CT-VKSHTN-HS ngày 27/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố bị cáo Lê Hữu T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H phát biểu quan điểm xử lý vụ án như sau:

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Lê Hữu T, phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Đề nghị xử phạt: Lê Hữu T từ 01 năm tù đến 02 năm tù.

Vật chứng vụ án:

Áp dụng: Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 gói nilon trong suốt kích thước (01x2,5)cm và 0,0630 gam Methamphetamine; 01 gói nilon trong suốt kích thước (2,5x2,5)cm và 0,0234 gam Methamphetamine đư c hoàn lại sau giám định; 01 nỏ thuỷ tinh (tình trạng bị vỡ). Xét thấy đây là vật cấm tàng trữ và không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

Hiện trạng vật chứng trên theo biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 25/3/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H.

Tại phiên tòa bị cáo thống nhất quan điểm luận tội của Viện kiểm sát, không tranh luận gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện H, tỉnh Bình Thuận. Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận. Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy trình của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện điều h p pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Hữu T khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù h p với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:

Vào khoảng 23 giờ ngày 23/12/2020, bị cáo Lê Hữu T và một người bạn sử dụng ma tuý tại bãi đất trống tại khu vực bến Dinh thuộc xã T, thị xã L. Khi bị cáo T đi về bạn đưa cho bị cáo T 01 gói nilon trong suốt kích thước (01x2,5)cm, bên trong có chứa ma túy và 01 nỏ thủy tinh, bên trong còn một ít ma túy mang về sử dụng, bị cáo T giấu gói ma túy vào quần lót đang mặc và nỏ thủy tinh vào sau cổ áo rồi điều khiển xe đi về. Đến khoảng 01 giờ 40 phút ngày 24/12/2020, khi bị cáo T về đến thôn H, xã T, huyện H thì bị lực lư ng Công an huyện H phối h p cùng Công an xã T phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ gói ma túy và nỏ thủy tinh, bên trong có chứa ma túy, lư ng ma tuý trong nỏ thuỷ tinh đư c lực lư ng Công an bóc tách, cho vào gói nilon trong suốt, kích thước (2,5x2,5)cm và niêm phong theo quy định.

Tại Bản kết luận giám định số 1416/KLGĐ-PC09 ngày 29/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận, kết luận: chất tinh thể trong gói nilon và trong nỏ thủy tinh thu giữ đư c của Lê Hữu T là Methamphetamine, có khối lư ng lần lư t là 0,0834 gam và 0,0414 gam. Như vậy, tổng khối lư ng ma tuý thu giữ của Lê Hữu T là: 0,1248 gam.

Hành vi của bị cáo Lê Hữu T đã trực tiếp xâm hại đến các quy định của nhà nước về quản lý các chất ma túy, còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương.

Hành vi của bị cáo Lê Hữu T là cố ý, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và khung hình phạt đư c quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 như nội dung cáo trạng đã truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bản thân bị cáo là đối tư ng sử dụng ma túy, nhận thức đư c việc tàng trữ trái phép chất ma túy là việc làm bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng xem thường pháp luật bị cáo đã phạm tội, cần đưa ra xét xử nghiêm bị cáo, để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời răn đe giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội, góp phần lập lại tình hình trật tự trị an ở địa phương.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như mức độ phạm tội của bị cáo để có mức hình phạt thích h p tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đư c quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 nên cần áp dụng cho bị cáo.

Vật chứng của vụ án:

01 gói nilon trong suốt kích thước (01x2,5)cm và 0,0630 gam Methamphetamine, 01 gói nilon trong suốt kích thước (2,5x2,5)cm và 0,0234 gam Methamphetamine đư c hoàn lại sau giám định và 01 nỏ thuỷ tinh (tình trạng bị vỡ). Xét thấy đây là vật cấm tàng trữ và không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

Hiện trạng vật chứng trên theo biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 25/3/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

TUYÊN BỐ: Lê Hữu T, phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.

XỬ PHẠT: Lê Hữu T 12(Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

ÁP DỤNG: Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 01 gói nilon trong suốt kích thước (01x2,5)cm và 0,0630 gam Methamphetamine, 01 gói nilon trong suốt kích thước (2,5x2,5)cm và 0,0234 gam Methamphetamine đư c hoàn lại sau giám định; 01 nỏ thuỷ tinh (tình trạng bị vỡ).

Hiện trạng vật chứng trên theo biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 25/3/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H.

Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lê Hữu T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29/3/2021).

Cỡ chữ