- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Điểm b khoản 2 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 và Điều 47 của Bộ luật hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GÒ CÔNG TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2021/HS-ST Ngày: 23-3-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Danh Hiếu;
2. Ông Phạm Đăng Khoa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Long - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã GC, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã GC, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Phạm Duyên An - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã GC, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2021/TLST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2021/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2021, đối với bị cáo:
Phạm Tấn P, sinh ngày 01/01/1978, tại huyện CĐ, tỉnh Long An; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Số 494 ấp B, xã PĐ, huyện CĐ, tỉnh Long An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Phạm Văn L, sinh năm 1950 và bà Trần Thị M, sinh năm 1953 (chết); Có vợ và 02 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại (Theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 1895 ngày 10/8/2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã GC), có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Cao Tấn Đ (chết)
Người đại diện hợp pháp của ông Đ:
1. Ông Cao Văn P, sinh năm 1953 (xin vắng mặt);
2. Bà Dương Thị V, sinh năm 1953 (xin vắng mặt);
3. Nguyễn Thanh T, sinh năm 1979 (xin vắng mặt);
4. Anh Cao Tấn D, sinh năm 1999 (xin vắng mặt);
5. Cao Tấn L, sinh ngày 27/10/2017;
Người đại diện theo pháp luật của Cao Tấn L: Chị Nguyễn Thanh T, sinh năm 1979;
Cùng nơi cư trú: Ấp LH, xã LC, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Lê Thị Hồng Th, sinh năm 1985 (có mặt);
Nơi cư trú: Ấp B, xã PVT, huyện CG, tỉnh Long An;
- Người làm chứng: Trần Minh T, sinh năm 1986 (xin vắng mặt);
Nơi cư trú: Ấp LM, xã LC, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 20 phút, ngày 04/7/2020 bị cáo Phạm Tấn P có giấy phép lái xe hạng A1 điều khiển xe mô tô hai bánh mang biển kiểm soát 62M1-698.15, lưu thông trên đường tỉnh lộ 873B hướng từ ngã ba Quốc lộ 50 và tỉnh lộ 873B về Ủy ban nhân dân xã LC. Khi đi đến khu vực ấp LM, xã LC, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang do thiếu quan sát để xe va chạm với ông Cao Tấn Đ, sinh năm năm 1975 ngụ ấp LH, xã LC, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang đang đi bộ cùng chiều phía trước dẫn đến tai nạn giao thông. Hậu quả: Ông Cao Tấn Đ tử vong sau khi được cấp cứu tại Bệnh viện Chợ Rẫy, thành phố Hồ Chí Minh. Xe mô tô biển kiểm soát 62M1-698.15 bị hư hỏng nhẹ.
Tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám xe như sau:
* Hiện trường: Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường rải nhựa, chiều rộng mặt đường là 6m, đường hai chiều được phân chia bằng vạch sơn đứt quãng, đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng.
Lấy trụ điện số 10A nằm bên phải hướng đi xe mô tô 62M1-698.15 làm vật chuẩn.
Lấy mép đường bên phải theo hướng đi xe mô tô 62M1-698.15 đi từ ngã ba tỉnh lộ 873B và Quốc lộ 50 về ngã ba tỉnh lộ 873B và huyện lộ 98 làm hướng chuẩn.
Xe mô tô 62M1-698.15 (ký hiệu số 2) đi hướng ngã 3 Tỉnh lộ 873B và Quốc lộ 50 về ngã 3 Tỉnh lộ 873B và Huyện lộ 98 gây tai nạn với bộ hành, sau tai nạn xe ngã bên trái, nằm bên lề trái hướng đi, trục trước xe mô tô 62M1-698.15 đo vào mép đường bên phải hướng chuẩn là 6m40, trục sau xe mô tô 62M1-698.15 đo vào mép đường bên phải hướng chuẩn là 5m20
Sau tai nạn xe mô tô 62M1-698.15 để lại vết cày trên mặt đường (ký hiệu là số 3) có chiều dài là 5m60, đầu vết cày đo vào mép đường bên phải hướng chuẩn là 1m20, cuối vết cày là ngay trục sau xe mô tô 62M1-698.15, đo vào mép đường bên phải hướng chuẩn là 5m20.
Vùng va chạm (ký hiệu là số 1) từ vùng va chạm đo vào mép đường bên phải hướng chuẩn là 0m80 từ vùng va chạm (số 1) đo đến đầu vết cày (số 3) là 1m20.
Lấy trụ điện số 10A (ký hiệu là số 4) nằm bên phải hướng đi của xe mô tô 62M1-698.15 làm vật chuẩn, từ vùng va chạm (số 1) đo đến trụ điện số 10A (soos4) là 17m50.
* Khám xe ô tô mang biển kiểm soát 62M1-698.15: Trầy xước đầu tay cầm bên trái (1,1x1,5) cm; Trầy xước đầu tay thắng bên trái (1,2 x 1,3)cm; Trầy xước ốp mũ đèn chiếu sáng bên trái (25x0,6)cm; Trầy xước ốp mũ bững bên trái (19x13)cm; Bể hở ốp mũ bững xe bên phải; Cong chản ba; Trầy xước gác chân sau bên trái (6,2 x 2,5)cm; Trầy xước ốp bầu lượt gió bên trái (10,3x7)cm; Hệ thống hãm, còi, đèn hoạt động bình thường ; Do xe bị cong chản ba nên không kiểm tra được hệ thống lái.
* Theo Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 103/PY-PC09 ngày 13/7/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tiền Giang thì nguyên chết của ông Cao Tấn Đ: Nứt xương hộp sọ, tụ máu ngoài màng cứng, dưới màng cứng, tụ máu dưới nhện, dập não do tai nạn giao thông.
* Theo Phiếu kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu hồi 19 giờ 40 phút, ngày 04/7/2020 của Bệnh viện đa khoa khu vực GC, tỉnh Tiền Giang thì nồng độ cồn trong máu của bị cáo P lúc xảy ra tai nạn là 1,07 g/l.
Tại Cáo trạng số 02/CT-VKSTXGC ngày 13/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã GC đã truy tố bị cáo Phạm Tấn P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ đã thể hiện, không có ý kiến tranh luận bổ sung.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã GC vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Xử phạt bị cáo 03 (Ba) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (Năm) năm, tính từ ngày tuyên án.
Về vật chứng vụ án: Đề nghị ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã GC đã trao trả cho chị Lê Thị Hồng Th: 01 xe mô tô biển kiểm soát 62M1-698.15.
+ Đối với 01 cái USB chứa hình ảnh vụ tai nạn giao thông xảy ra ngày 04/7/2020 tại đường tỉnh lộ 873B thuộc ấp LM, xã LC, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang, đề nghị lưu theo hồ sơ vụ án.
+ Đối với 01 giấy phép lái xe số 800113003604 trả lại cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình bị hại và bị cáo đã thỏa thuận bồi thường xong, không có yêu cầu gì thêm, nên đề nghị không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã biết lỗi, bị cáo rất ăn năn, hối cải về hành vi vi phạm của mình. Mong Hội đồng xem xét nhân thân và hoàn cảnh của bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nuôi con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã GC, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã GC, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo Phạm Tấn P có giấy phép lái xe hạng A1 khai nhận vào khoảng 19 giờ 20 phút ngày 04/7/2020, bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 62M1-698.15 lưu thông trên đường tỉnh lộ 873B hướng từ ngã ba Quốc lộ 50 và tỉnh lộ 873B về Ủy ban nhân dân xã LC. Khi đi đến khu vực ấp LM, xã LC, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang do thiếu quan sát để xe va chạm với ông Cao Tấn Đ đi bộ cùng chiều phía trước dẫn đến tai nạn giao thông. Hậu quả ông Đ tử vong, Kết luận giám định pháp y về tử thi xác định nguyên chết của ông Đ là Nứt xương hộp sọ, tụ máu ngoài màng cứng, dưới màng cứng, tụ máu dưới nhện, dập não do tai nạn giao thông. Nồng độ cồn trong máu của bị cáo lúc xảy ra tai nạn là 1,07 g/l.
Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường; Biên bản, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo ý thức được rằng khi điều khiển xe mô tô là nguồn nguy hiểm cao độ tham gia giao thông phải tuân thủ Luật giao thông đường bộ nhưng bị cáo đã sử dụng rượu bia, thiếu chú ý quan sát phía trước nên để xe va chạm với người đi bộ phía trước bên phải cùng chiều, hậu quả làm ông Đ tử vong. Bị cáo đã vi phạm theo quy định khoản 8 Điều 8, Luật Giao thông đường bộ được sửa đổi bổ sung bởi khoản 1 Điều 35 Luật Phòng chống tác hại của rượu bia, khoản 1 Điều 9 và khoản 4 Điều 11 Luật Giao thông đường bộ, đã xâm phạm đến an toàn công cộng và tính mạng, sức khỏe của con người là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm sức khỏe, tính mạng của người khác, bị cáo biết rõ việc điều khiển xe tham gia giao thông có sử dụng rượu bia là vi phạm pháp luật, việc điều khiển phương tiện cẩu thả, thiếu quan sát sẽ gây tai nạn giao thông nhưng vì quá tự tin vào bản thân do đó bị cáo đã gây ra tai nạn làm 01 người chết, thể hiện thái độ xem thường pháp luật của bị cáo, nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo, có ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; Quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì thái độ của bị cáo tỏ ra thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; Bị cáo và đại diện bị hại đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại xong, đại diện bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo, bị cáo là cháu của Liệt sĩ Phạm Văn Đ là người có công với Cách mạng. Từ đó, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, khi lượng hình.
Xét thấy bị cáo P có nơi cư trú rõ ràng và có khả năng tự giáo dục, cải tạo nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, cũng đủ sức răng đe đối với bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, có đủ căn cứ để cho bị cáo được hưởng án treo.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử nhận thấy hoàn cảnh bị cáo hiện nay khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng, xử lý vật chứng: Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã GC đã trao trả cho chị Lê Thị Hồng Th: 01 xe mô tô biển kiểm soát 62M1-698.15 là đúng quy định pháp luật nên ghi nhận.
- Đối với 01 cái USB chứa hình ảnh vụ tai nạn giao thông xảy ra ngày 04/7/2020 tại đường tỉnh lộ 873B thuộc ấp LM, xã LC, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang là tài liệu liên quan vụ án, cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
- Đối với 01 giấy phép lái xe số 800113003604, xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo nên trả lại cho bị cáo khi án có hiệu lực pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm b khoản 2 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 và Điều 47 của Bộ luật hình sự;
- Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Phạm Tấn P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Phạm Tấn P 03 (Ba) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (Năm) năm, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Phạm Tấn P cho Ủy ban nhân dân xã PĐ, huyện CĐ, tỉnh Long An để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo Phạm Tấn P thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo Phạm Tấn P cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về biện pháp tư pháp:
- Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án: 01 cái USB chứa hình ảnh vụ tai nạn giao thông xảy ra ngày 04/7/2020 tại đường tỉnh lộ 873B thuộc ấp Long Mỹ, xã Long Chánh, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang.
- Trả lại cho bị cáo: 01 giấy phép lái xe số 800113003604.
Thời gian thực hiện khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Tấn P phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đại diện người bị hại vắng mặt thời hạn kháng cáo 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; Đại diện người bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Viện kiểm sát nhân dân thị xã GC; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang; - Chi cục Thi hành án dân sự thị xã GC; - Cơ quan Thi hành án hình sự thị xã GC; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký và đóng dấu) Võ Thị Thu Thúy |