vanban.org

Bản án 19/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Dương Kinh, TP. Hải Phòng Tuyên án 29/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân phường Q, quận H, thành phố H giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bán án đã cho hưởng án treo. Không áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Minh T vi phạm quy định về tham gia giao thông - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sun…"
  • Tòa quyết gì? Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân phường Q, quận H, thành phố H giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật hình sự bảo vệ
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN D
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2021/HS-ST
Ngày 29-7-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN D, THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội Đ xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Quang Trung

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đức Nam

Ông Ngô Văn Thành

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Trang Thanh - Thư ký Toà án nhân dân quận D, thành phố H.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận D, thành phố H tham gia phiên tòa: Ông Bùi Đình Lành - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận D, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2021/HSST ngày 24 tháng 06 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 218a/2021/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 07 năm 2021, đối với bị cáo:

Lê M T, sinh ngày 24 tháng 6 năm 1975 tại H. Nơi cư trú: Tổ dân phố Hải Triều, phường Q, quận H, thành phố H; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Ngô Thị Hương, có 03 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/3/2021; có mặt.

- Bị hại: Cháu Nguyễn Khánh V, sinh năm 2004 (đã chết)

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

- Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1972 – là bố đẻ của bị hại. Trú tại Tổ 3,

phường H, quận D, H. Có mặt.

- Bà Bùi Thị X, sinh năm 1979 - là mẹ đẻ của bị hại. Trú tại Tổ 3, phường H,

quận D, H. Có mặt.

- Người làm chứng:

Anh Nguyễn Trọng Đ. Vắng mặt.

Anh Vũ Văn M. Vắng mặt.

Chị Phạm Thị C. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13h40’ ngày 12/01/2021, trên đường Phạm Văn Đ thuộc tổ 2A, phường H, quận D, thành phố H, Lê M T điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15C-110.31 kéo theo rơ-moóc biển kiểm soát 15R-042.86 theo hướng từ Đ về C, khi chuyển hướng rẽ phải vào đường đất (không phải đường gom) cạnh đường ô tô cao tốc H - H đã gây tai nạn với xe máy điện biển kiểm soát 15MĐ4 -510.09 đi cùng chiều do cháu Nguyễn Khánh V, sinh năm 2004, trú tại tổ 3, phường H điều khiển. Hậu quả làm cháu V tử vong tại chỗ, xe máy điện bị hư hỏng nặng. Sau khi gây tai nạn, Lê M T đến cơ quan Công an trình diện.

Kết quả khám nghiệm hiện T xác định: Đoạn đường xảy ra tai nạn trên đường Phạm Văn Đ chiều từ Đ về C thuộc tổ 2A, phường H, quận D, tại vị trí xảy ra tai nạn có lối mở rẽ phải đi vào bờ đê phường H. Xe ô tô đầu kéo đứng đỗ sau tai nạn, đầu xe hướng về phía đi bờ đê. Các dấu vết để lại trên hiện T: Vết phanh dài 1,4m chiều từ Đ về C, điểm cuối vị trí lốp trái trục thứ sáu, xe ô tô. Lấy mép đường bên phải chiều Đ về C làm mốc để xác định các số đo: Từ trục bên trái thứ nhất cách mép đường 5,6m, bên trái trục thứ ba cách mép đường 0,8m, bên phải trục thứ tư cách mép đường 4,2m. Phía dưới đầu rơ-moóc để lại 02 vết mài xước song song đều có chiều từ Đ về C, vết thứ nhất dài 3,2m, đầu vết cách mép đường 0,8m, cuối vết cách mép đường 0,7m; vết thứ hai dài 2,5m, đầu vết cách mép đường 0,6m, cuối vết cách mép đường 0,5m. Xe máy điện nằm đổ nghiêng bên phải, phía dưới đầu rơ-moóc, đầu xe hướng ra tim đường Phạm Văn Đ, đuôi xe hướng về đê H, trục bánh xe trước nằm trên mép đường, trục bánh sau cách mép đường 0,9m. Nạn nhân nằm tại hiện T, đầu nằm giữa trục thứ hai và trục thứ ba của xe ô tô cách mép đường 1,66m, bàn chân trái cách mép đường 0,15m, phía dưới đầu nạn nhân có vết máu kích thước 0,7m x 0,8m. Vết in hình lốp dài 3,3m có chiều từ tim đường Phạm Văn Đ hướng ra bờ đê phường H, cuối vết là vị trí lốp bên trái trục thứ nhất xe đầu kéo.

Khám nghiệm tử thi: Khuôn mặt nạn nhân biến dạng, vùng đầu mặt nhàu nát, dập rách kích thước 20cm x 25cm, để lộ xương hộp sọ bị dập vỡ phức tạp, thoát phần lớn tổ chức não ra ngoài. Vùng hố chậu phải và đúi phải xây xước mài trượt da, diện tích rộng 46cm x 48cm, mặt sau đùi phải có in hình dạng V lốp ô tô, chân phải biến dạng ngắn hơn chân trái, sờ nắn thấy dập gãy phức tạp sương đùi phải.

Kết quả khám nghiệm dấu vết trên các phương tiện: Xe ô tô đầu kéo, mặt ngoài thùng nhiên liệu bên phải có vết trượt mất bụi sáng kim loại có chiều từ trước ra sau kích thước 49cm x 6cm, đai cao su phía hàng bánh thứ ba theo chiều từ trước về sau có vết dập rách mất cao su kích thước 6cm x 6cm theo chiều từ trước về sau, tâm vết cách mặt đất 47cm. Cạnh trước phía ngoài bên phải chân đỗ phía trước của rơ-moóc có vết bong tróc mất rỉ sét bám bụi đất kích thước 11cm x 4cm cách mặt đất 29,5cm, cạnh dưới bên phải phía trước bám dính tạp chất màu X kích thước 76cm x 10cm. Đầu rơ-moóc có vết trượt xước mất bụi đất, mất sơn màu X, rỉ sét màu nâu, sơn lót màu đỏ kích thước 24cm x 3cm cách mặt đất 41,5cm. Chính giữa mặt trước gầm rơ-moóc có vết trượt mất bụi đất lộ lớp sơn màu X kích thước 42cm x 21cm cách mặt đất 65cm, cách cạnh phải xe 87cm. Xe máy điện: Phần đầu xe cong vênh biến dạng, cụm đèn pha phía trước vỡ rời, bung bật khỏi vị trí ban đầu; ốp nhựa trước đầu xe bên trái và một phần bên phải bị vỡ nát; tay phanh bên trái gãy rời khuyết phần núm; tay lái bên trái cong vênh biến dạng theo chiều từ dưới lên trên; mặt đồng hồ bung bật rời khỏi vị trí; gương chiếu hậu bên phải cong gập theo chiều từ phải sang trái, mặt ngoài trượt xước kim loại bám dính tạp chất bụi đá; mặt lăn bánh lốp phía sau có vết trượt xước cao su bám dính tạp chất màu nâu đỏ dạng rỉ sét.

Kết luận giám định pháp y số 08/2021/GĐPY ngày 15/01/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố H, kết luận: Cháu Nguyễn Khánh V chết do sốc đa chấn thương.

Kết luận giám định đường V số 11/KLGĐ(ĐV) ngày 20/01/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố H, kết luận: Phát hiện 03 dấu vết đường V trên buồng lái xe ô tô đầu kéo 15C-110.31, nhưng không đủ yếu tố giám định.

Kết luận giám đinh số 04/GĐCH ngày 08/02/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố H, kết luận: Có sự va chạm giữa xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15C-110.31 kéo theo rơ-moóc biển kiểm soát 15R-042.86 với xe máy điện biển kiểm soát MĐ4 - 510.09. Không đủ căn cứ để xác định tốc độ của xe ô tô và xe máy điện khi xảy ra tai nạn.

Kết quả đo nồng độ cồn trong hơi thở của Lê M T vào 15 giờ 26 phút ngày 12/01/2021 là 0,000 mg/l; xét nghiệm âm tính với chất ma túy.

Về vật chứng của vụ án là 01 xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15C-110.31 kéo theo rơ-moóc biển kiểm soát 15R-042.86 cùng Giấy chứng nhận đăng ký xe và Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi T của xe ô tô và rơ-moóc; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm dân sự bắt buộc cấp ngày 03/9/2020 cho xe ô tô đầu kéo 15C-110.31, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là Công ty cổ phần xây dựng Tuần Giang; 01 xe máy điện biển kiểm soát MĐ4 - 510.09 đã trả lại cho gia đình người bị hại. Ngoài ra Cơ quan điều tra cũng thu giữ 01 Giấy phép lái xe mang tên Lê M T hiện đang lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Lê M T đã bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 250.000.000 (hai trăm năm mươi triệu) Đ. Đại diện gia đình bị hại không yêu cầu gì thêm và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T.

Tại Bản cáo trạng số 18/CT-VKS ngày 24-06-2021, Viện kiểm sát nhân dân quận D, H đã truy tố Lê M T về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung cáo trạng, bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải và xin Hội Đ xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện hợp pháp cho bị hại là ông T và bà X trình bày: Sau khi sự việc xảy ra, gia đình bị cáo đã đến thăm hỏi và bồi thường số tiền là 250.000.000 (hai trăm năm mươi triệu) Đ. Nay ông T và bà X không còn bất kỳ yêu cầu nào về việc bồi thường và đề nghị Hội Đ xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội Đ xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê M T với mức án từ 18 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong cho gia đình bị hại. Gia đình bị hại không có yêu cầu khác về mặt dân sự nên không đề nghị Hội Đ xét xử xem xét.

Đề nghị trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe mang tên Lê M T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội Đ xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận D, thành phố H, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân quận D, thành phố H, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

- Về tội danh:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13h40’ ngày 12/01/2021, trên đường Phạm Văn Đ thuộc tổ 2A, phường H, quận D, thành phố H, Lê M T điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15C-110.31 kéo theo rơ-moóc biển kiểm soát 15R-042.86 theo hướng từ Đ về C, khi chuyển hướng rẽ phải vào đường đất (không phải đường gom) cạnh đường ô tô cao tốc H - H đã gây tai nạn với xe máy điện biển kiểm soát 15MĐ4 -510.09 đi cùng chiều do cháu Nguyễn Khánh V, sinh năm 2004, trú tại tổ 3, phường H điều khiển. Hậu quả làm cháu V tử vong tại chỗ, xe máy điện bị hư hỏng. Bị cáo đã điều khiển xe ô tô không tuân thủ quy tắc giao thông đường bộ, vi phạm Điều 15 Luật Giao thông đường bộ quy định về quy tắc an toàn khi chuyển hướng, Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT của Bộ Giao thông vận tải quy định về tốc độ của xe cơ giới trong T hợp chuyển hướng.

Bị cáo Lê M T có giấy phép lái xe phù hợp với phương tiện do bị cáo điều khiển, nhưng không tuân thủ nguyên tắc chung khi tham gia giao thông đường bộ, vi phạm quy định về chuyển hướng xe, không tuân thủ quy định về tốc độ khi chuyển hướng xe nên đã gây tai nạn giao thông, hậu quả làm cháu V bị tử vong. Hành vi của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" được quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân quận D đã truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, gia đình bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo tự nguyện đến cơ quan công an đầu thú; đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự được áp dụng đối với bị cáo.

Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến tính mạng và tài sản của người khác là khách thể được Luật hình sự bảo vệ mà còn gây mất trật tự, trị an xã hội, do vậy cần phải xử lý nghiêm. Song khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo cần xem xét tới nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị cáo để quyết định mức hình phạt tương xứng, đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo, Hội Đ xét xử thấy rằng: Lỗi của bị cáo là lỗi vô ý, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, gia đình bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Mặt khác, bị hại là cháu V cũng có một phần lỗi khi tham gia giao thông đã không chú ý quan sát, không giảm tốc độ khi có chướng ngại vật đằng trước dẫn đến hậu quả đáng tiếc. Do đó, khi quyết định hình phạt, Hội Đ xét xử sẽ xem xét những tình tiết trên để áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, song căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và tình hình trật tự, an toàn giao thông của địa phương cần có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội Đ thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, không cần thiết phải buộc bị cáo phải cách ly xã hội mà có thể áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự như đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung, Đ thời còn thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo và hoàn cảnh gia đình bị cáo, Hội Đ xét xử xét thấy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Hành vi phạm tội của bị cáo làm cháu V tử vong, hư hỏng chiếc xe đạp điện, song bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho gia đình bị hại tổng số tiền 250.000.000 Đ; gia đình bị hại không có yêu cầu gì khác về phần dân sự nên Hội Đ xét xử không xem xét.

Về vật chứng của vụ án là: 01 xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15C-110.31 kéo theo rơ-moóc biển kiểm soát 15R-042.86 cùng Giấy chứng nhận đăng ký xe và Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi T của xe ô tô và rơ-moóc; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm dân sự bắt buộc cấp ngày 03/9/2020 cho xe ô tô đầu kéo 15C-110.31, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là Công ty cổ phần xây dựng Tuần Giang; 01 xe máy điện biển kiểm soát MĐ4 - 510.09 đã trả lại cho gia đình người bị hại nên không xem xét giải quyết; Ngoài ra, Cơ quan Công an còn thu giữ của bị cáo 01 giấy phép lái xe mang tên Lê M T chuyển theo hồ sơ vụ án. Xét thấy, đây là giấy tờ tùy thân hợp pháp của bị cáo cần trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự: xử phạt Lê M T 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân phường Q, quận H, thành phố H giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. T hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bán án đã cho hưởng án treo.

Không áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo.

Căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe mang tên Lê M T đang được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) Đ án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, những người đại diện hợp pháp của cháu V là ông Nguyễn Thanh T và bà Bùi Thị X có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ