- Tranh chấp gì? án hình sự — "L tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2021/HS-ST Ngày 15-12-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Xuân Phong
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Xuyên
Bà Dương Thị Ngần
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quế - Thư ký TAND huyện Tiên Du
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Chu Đức Tuấn – Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 15 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Du xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2021/TLST-HS ngày 09/11/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2021/QĐXXST-HS ngày 16/11/2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn L, sinh năm 1983
HKTT: Thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1953 và con bà Lê Thị T, sinh năm 1957; Vợ: Mẫn Thị H, sinh năm 1987 (đã ly hôn); Con: có 01 con (sinh năm 2009) hiện đang ở với mẹ.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2002.
- Ngày 15/01/2002, Chủ tịch UBND phường N, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh ra Quyết định đưa vào giáo dục tại phường, thời hạn 06 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Đã chấp hành xong.
- Bản án phúc thẩm số 45 ngày 17/7/2002, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xử phạt 09 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 140 Bộ L hình sự năm 1999. Ra trại ngày 05/12/2002, đã chấp hành xong toàn bộ quyết định của bản án.
- Ngày 28/11/2003, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh Quyết định đưa đi cơ sở giáo dục bắt buộc, thời hạn 24 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản và sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 02/12/2005 chấp hành xong.
- Ngày 15/7/2013, Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”, thời hạn 02 năm. Đến ngày 20/11/2015 chấp hành xong.
- Bản án số 233 ngày 08/8/2018, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ L hình sự. Ra trại ngày 19/10/2018, đã chấp hành xong toàn bộ quyết định của bản án.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/9/2021 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị T, sinh năm 1957
Địa chỉ: Thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 10 phút, ngày 21/9/2021, tại đường tỉnh lộ 276 thuộc thôn H, xã L, huyện Tiên Du, Công an xã Việt Đoàn phối hợp Công an xã L bắt quả tang Nguyễn Văn L đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ trong ví da mầu nâu để trong túi quần sau bên phải của L 01 túi nilon màu trắng bên trong có 01 viên nén màu hồng và chất tinh thể màu trắng. Cơ quan công an đã niêm phong trong phòng bì thư theo quy định. Ngoài ra, Công an còn thu giữ của bị cáo: 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Masstell màu đen kèm theo sim card; 01 ví da màu nâu bên trong có 100.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu SOME (kiểu dáng Honda Dream) màu nâu BKS: 99 Z1-3234.
Cơ quan Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đưa L và cùng vật chứng về Công an xã L, huyện Tiên Du làm việc.
Cơ quan điều tra đã khám xét nơi ở của L nhưng không thu giữ, đồ vật, tài liệu gì.
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện Tiên Du ra Quyết định trưng cầu giám định đối với số ma túy thu giữ của L. Tại Bản Kết luận giám định số: 643/KLGĐMT-PC09 ngày 23/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:
“- Chất tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon màu trắng có khối lượng là 0,0881 gam Là ma túy: Loại ma túy: Methamphetamine”.
- 01 viên nén màu hồng bên trong túi nilon màu trắng có khối lượng là 0,1030 gam; Là ma túy: Loại ma túy: Methamphetamine
Với nội dung trên, Cáo trạng số 117/CT-VKS ngày 08/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận nội dung Cáo trạng truy tố là đúng và khai nhận: Khoảng 9 giờ, ngày 21/9/2021, do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo mượn xe mô tô nhãn hiệu SOEM màu nâu BKS: 99Z1-3234 của mẹ đẻ bị cáo là bà Lê Thị T đi đến khu vực Xuân Ổ, phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh mua của một người đàn ông không quen biết 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu hồng với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, khi đi trên đường tỉnh lộ 276 thuộc khu vực thôn H, xã L, huyện Tiên Du thì bị lực lượng Công an kiểm tra và bắt giữ.
Bà Lê Thị T trình bày: Bà không biết việc L mượn xe của bà để đi mua ma túy. Chiếc xe là tài sản của bà, bà đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bà chiếc xe mô tô.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo Cáo trạng số 117/CT- VKS ngày 08/11/2021. Trong phần luận tội đã phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm, vai trò cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2/ Hình phạt và điều L áp dụng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ L hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 16 đến 19 tháng tù. Thời hạn tù tính từ tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 21/9/2021.
3/ Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
4/ Về xử lý vật chứng áp dụng Điều 47 Bộ L hình sự, Điều 106 Bộ L tố tụng hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì thư được niêm phong dán kín bên ngoài có đóng dấu niêm phong và chữ ký của Giám định viên phòng PC09 – Công an tỉnh Bắc Ninh và 01 chiếc ví da mầu nâu.
Trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel mầu đen có lắp thẻ sim và 100.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Trả lại bà T 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SOME mầu nâu, BKS: 99Z1-3234 có số khung G0UM8XS01176, số khung P50FMG001176, loại xe hai bánh, dung tích 97cm3.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo sau khi nghe luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, thừa nhận có tội, không tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ được và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở kết luận:
Hồi 10 giờ, 10 phút ngày 21/9/2021, tại đường tỉnh lộ 276 thuộc thôn H, xã L, huyện Tiên Du, Công an xã Việt Đoàn phối hợp Công an xã Liên Bão bắt quả tang Nguyễn Văn L đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,1911 gam ma túy Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Do vậy, Viện kiểm sát huyện Tiên Du truy tố bị cáo L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là hoàn toàn đúng người đúng tội đúng pháp L.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng tới sức khỏe con người và là cầu nối của đại dịch HIV. Đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm nguy hiểm khác như giết người, cướp tài sản..Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo riêng và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy:
Về nhân thân: Bị cáo là người sử dụng ma túy, nhiều lần bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và hai lần bị Tòa án xét xử, Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo có T độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Căn cứ nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy đối với lần phạm tội này của bị cáo, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian thì mới đủ điều kiện cải tạo bị cáo thành người tốt.
Bên cạnh việc bắt bị cáo phải chịu hình phạt chính là hình phạt tù, cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với mẫu vật còn lại sau giám định, được niêm phong dán kín mép dán, trên mép dán có chữ ký niêm phong của giám định viên và dấu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự có ghi số 643 ghi ngày 23/9/2021, xét thấy vật cấm lưu hành cần phải tịch thu tiêu huỷ.
Đối với chiếc ví da mầu nâu, mặt trước có chữ Baellerry bị cáo chứa ma túy và giá trị không lớn bị cáo không xin lại nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, mầu đen, bên trong có lắp 01 thẻ sim điện thoại Viettel và số tiền 100.000 đồng là tài sản riêng của bị cáo và không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo là phù hợp.
Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SOME mầu nâu, BKS: 99Z1-3234 có số khung G0UM8XS01176, số khung P50FMG001176, loại xe hai bánh, dung tích 97cm3. Đăng ký xe mang tên ông Lê Văn Thịnh do bà T mua lại việc L sử dụng đi mua ma túy bà T không biết nên trả lại bà T là phù hợp.
Liên quan trong vụ án có người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan điều tra chưa làm rõ được con người cụ thể, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với bà Lê Thị T, khi cho bị cáo mượn xe mô tô bà không biết L sử dụng để đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp L.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 47 Bộ L hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 329, Điều 331, Điều 333 Bộ L tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 21/9/2021.
Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
3. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư hoàn trả lại mẫu vật còn lại sau giám định, được niêm phong dán kín mép dán, trên mép dán có chữ ký niêm phong của giám định viên và dấu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự có ghi số 643 ghi ngày 23/9/2021 và 01 chiếc ví da mầu nâu, mặt trước có chữ Baellerry.
Trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, mầu đen, bên trong có lắp 01 thẻ sim điện thoại Viettel và số tiền 100.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Trả lại bà Lê Thị T 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SOME mầu nâu, BKS: 99Z1-3234 có số khung G0UM8XS01176, số khung P50FMG001176, loại xe hai bánh, dung tích 97cm3.
(Các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số 17 ngày 09/11/2021)
4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Ninh; -VKSND tỉnh Bắc Ninh - VKSND huyện Tiên Du; - Công an huyện Tiên Du; - Chi cục THADS huyện Tiên Du; - Những NTGTT; - Lưu HS, VP; | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Xuân Phong |