vanban.org

Bản án 19/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 30/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bị cáo Nguyễn Gia B phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Gia B 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 18 tháng 6 năm 2021. Về xử lý vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy các vật chứng và đồ vật trực tiếp liên quan đến tội phạm, gồm: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Gia B - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bị cáo Nguyễn Gia B phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ TÚ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2021/HS-ST
Ngày 30-9-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Luân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Hoàng Điệt

2. Ông Huỳnh Văn Miên

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Chánh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Võ Thanh Tuấn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2021/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2021/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Gia B, sinh năm 2001; nơi sinh: huyện M, tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú: ấp M1, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H (còn sống) và bà Lưu Thị T (còn sống); vợ, con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: có 02 tiền sự, cụ thể: Ngày 09-5-2019 bị Công an xã M xử phạt hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã chấp hành nộp phạt ngày 17-5-2020; Ngày 23-8-2019, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã thời hạn 03 tháng, chấp hành xong ngày 23-11-2019. Về nhân thân: Đã bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chưa hết thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 18-8-2020, bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú quyết định áp dụng pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 (mười tám) tháng. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 18-6-2021 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Nguyễn Chí T1, sinh năm 1981; nơi cư trú: ấp M2, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

2. Lê Thế Q, sinh năm 1995, cư trú: ấp M3, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1996; nơi cư trú: ấp T3, xã T4, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (có đơn xin xét xử vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 35 phút ngày 20-7-2020, nhận được tin báo tại nhà của Nguyễn Gia B có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy nên lực lượng Công an huyện Mỹ Tú kết hợp với Công an xã M tiến hành đến kiểm tra tại nhà của Nguyễn Gia B thuộc ấp M1, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng thì phát hiện có các đối tượng Nguyễn Chí T, Lê Thế Q và Nguyễn Văn A, còn Nguyễn Gia B đã bỏ trốn. Qua kiểm tra, lực lượng Công an đã phát hiện và thu giữ niêm phong 02 (hai) bịch nylon (tép) có chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy và một số công cụ hỗ trợ việc sử dụng ma túy đang để trên bàn gỗ trong nhà, gồm: 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy (một chai nhựa trong suốt có nắp màu đỏ, gắn kèm cái nỏ và ống hút nhựa màu xanh); 01 (một) chai gas mini bằng kim loại màu trắng; 02 (hai) bật lửa màu nâu; 01 (một) cây dao bấm bằng kim loại màu trắng, cán bằng gỗ; 01 (một) cái bật lửa đã vỡ đầu ra gắn với cây tim bằng kim loại màu trắng; 01 (một) lưỡi dao bằng kim loại màu trắng; 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng. Ngoài ra, lực lượng Công an còn tạm giữ 01 (một) xe mô tô biển số 52K8-6862, không có giấy tờ bên trong nhà của Nguyễn Gia B và tạm giữ của Lê Thế Q các đồ vật và tài sản, gồm: 01 (một) khẩu súng hơi màu đen, hiệu AIRFORCE model R1201 made in USA; 01 (một) cái ná bằng kim loại màu trắng, dây thun hai da màu hồng vàng da bò, cùng ổ đạn bi bằng kim loại; 01 (một) cái ba lô (túi du lịch) màu xanh đen có logo QuiĐam Collection; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA1202 màu xanh xám loại bàn phím; Tiền Việt Nam 1.200.000 đồng và một số giấy bạc có mệnh giá nhỏ của nhiều quốc gia.

Cơ quan điều tra Công an huyện Mỹ Tú đã trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng giám định đối với 02 (hai) bịch nylon (tép) có chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy. Tại Bản kết luận giám định số 99/GĐMT-PC09 ngày 28-7-2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,1363 gam, loại Methamphetamine.

Qua quá trình điều tra, Nguyễn Gia B thừa nhận vào ngày 20-7-2020 B đã mượn xe mô tô biển số 52K8-6862 của Nguyễn Chí T để đi mua ma túy tại khu vực “Cổng đỏ” thuộc thành phố S. Tại đây B đã gặp một người thanh niên không rõ họ tên và địa chỉ, B đã mua 02 bịch nylon (tép) ma túy về sử dụng với giá 200.000 đồng. Khi về đến nhà, B để ma túy trên bàn gỗ chưa sử dụng thì Nguyễn Chí T, Lê Thế Q và Nguyễn Văn A đến rủ đi bắn chim. Sau đó, bị Công an phát hiện và lập biên bản phạm tội quả tang nhưng B đã bỏ trốn.

Các đối tượng Lê Thế Q, Nguyễn Văn A và Nguyễn Chí T khai có đến chơi tại nhà của Nguyễn Gia B, khi lực lượng Công an vào kiểm tra thì B bỏ trốn nên các đối tượng bị lập biên bản tạm giữ một số tài sản cá nhân và mời về trụ sở Công an làm việc chứ không biết việc Nguyễn Gia B tàng trữ trái phép chất ma túy. Đối với người thanh niên đã bán ma túy cho Nguyễn Gia B, chưa xác định làm rõ được nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Tú đã tách ra tiếp tục điều tra xử lý sau.

Tại bản Cáo trạng số 24/CT-VKSMT ngày 30 tháng 8 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú truy tố bị cáo Nguyễn Gia B về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Gia B đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Đồng thời, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Chí T và Lê Thế Q vắng mặt, nhưng trong quá trình điều tra đã có lời khai, đã nhận lại đủ các tài sản bị tạm giữ và không có yêu cầu gì thêm.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú giữ nguyên Cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Gia B về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 tuyên phạt bị cáo Nguyễn Gia B từ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 03 (Ba) năm tù. Về hình phạt bổ sung không áp dụng.

- Về xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy các vật chứng bao gồm: 02 (hai) bịch nylon, được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng là ma túy đã niêm phong; 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy (một chai nhựa trong suốt có nắp màu đỏ, gắn kèm cái nỏ và ống hút nhựa màu xanh); 01 (một) chai gas mini bằng kim loại màu trắng; 02 (hai) bật lửa màu nâu; 01 (một) cây dao bấm bằng kim loại màu trắng, cán bằng gỗ; 01 (một) cái bật lửa đã vỡ đầu có gắn với cây tim bằng kim loại màu trắng; 01 (một) lưỡi dao bằng kim loại màu trắng; 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng.

Trong phần nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo Nguyễn Gia B xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng, tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Chí T, Lê Thế Q và người làm chứng Nguyễn Văn A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Trong quá trình điều tra, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng này đã có lời khai lưu trong hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt những người này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ vào Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cũng như các chứng cứ được thu thập trong quá trình điều tra, truy tố. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện bảo đảm tuân thủ đúng theo quy định pháp luật về tố tụng.

Về nội dung vụ án, trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo B đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của bị cáo. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án và Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo, nên có cơ sở xác định: Vào khoảng 18 giờ 35 phút ngày 20-7-2020, tại nhà của Nguyễn Gia B thuộc ấp M1, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, lực lượng Công an huyện Mỹ Tú bắt quả tang Nguyễn Gia B có hành vi tàng trữ trái phép 0,1363 gam (không phẩy một ba sáu ba gam) Methamphetamine để sử dụng. Như vậy, hành vi của bị cáo B đã đủ yếu tố cấu thành “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: … c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;…” Từ đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú truy tố bị cáo B về tội danh và khung hình phạt là có căn cứ, đúng người, đúng tội nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, bị cáo B là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã bị xử phạt vi phạm hành chính và bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng bị cáo vẫn không thể tự cai nghiện ma túy. Để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo B đã bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật tàng trữ 0,1363 gam (không phẩy một ba sáu ba gam) Methamphetamine để sử dụng. Hành vi của bị cáo B là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy và vi phạm Luật Phòng, chống ma túy; là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý hoang mang lo ngại cho quần chúng nhân dân, do đó cần phải đưa bị cáo ra xét xử nghiêm khắc trước pháp luật để nhằm giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và góp phần phòng ngừa tội phạm chung trong toàn xã hội.

Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo B không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng trước khi phạm tội bị cáo B đã bị xử phạt vi phạm hành chính và bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên bị cáo có nhân thân xấu. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo B đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 cần xem xét áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt. Đối với tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Kiểm sát viên đề nghị áp dụng cho bị cáo là không có cơ sở, Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Về hình phạt, bị cáo B là người đã bị xử phạt hành chính, bị áp biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và còn trong thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính nên có đủ năng lực nhận thức được tác hại của ma túy, biết rõ pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy. Nhưng bị cáo không biết tu dưỡng rèn luyện bản thân để cai nghiện, không từ bỏ được chất ma túy, mà tiếp tục bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật mua ma túy về tàng trữ để sử dụng trái phép. Do vậy, đối với bị cáo B cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn quy định tại Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 theo đề nghị của Kiểm sát viên mới tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị tuyên phạt bị cáo từ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 03 (Ba) năm tù là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thì bị cáo B không có chức vụ, không có nghề nghiệp hay làm công việc nào khác để làm nguồn thu nhập cho cuộc sống nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Chí T, Lê Thế Q trong quá trình điều tra, truy tố đã xác định không có liên quan đến hành vi tàng trữ ma túy của Nguyễn Gia B nên không xem xét xử lý. Đối với người thanh niên bán ma túy cho bị cáo B, Cơ quan điều tra chưa xác định làm rõ được nhân thân nên tách ra tiếp tục điều tra xử lý sau là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng và đồ vật thu giữ, căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy các vật chứng và đồ vật trực tiếp liên quan đến tội phạm gồm: 02 (hai) bịch nylon, được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng là ma túy đã niêm phong; 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy (một chai nhựa trong suốt có nắp màu đỏ, gắn kèm cái nỏ và ống hút nhựa màu xanh); 01 (một) chai gas mini bằng kim loại màu trắng; 02 (hai) bật lửa màu nâu; 01 (một) cây dao bấm bằng kim loại màu trắng, cán bằng gỗ; 01 (một) cái bật lửa đã vỡ đầu ra gắn với cây tim bằng kim loại màu trắng; 01 (một) lưỡi dao bằng kim loại màu trắng; 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng.

Ngoài ra, trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Tú đã xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho các chủ sở hữu Lê Thế Q đối với: 01 (một) khẩu súng hơi màu đen, hiệu AIRFORCE model R1201 made in USA; 01 (một) cái ná bằng kim loại màu trắng, dây thun hai da màu hồng vàng da bò, cùng ổ đạn bi bằng kim loại; 01 (một) cái ba lô (túi du lịch) màu xanh đen có logo QuiĐam Collection; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA1202 màu xanh xám loại bàn phím; Tiền Việt Nam 1.200.000 đồng và một số giấy bạc có mệnh giá nhỏ của nhiều quốc gia; Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú quyết định xử lý trả cho chủ sở hữu Nguyễn Chí T 01 (một) xe mô tô biển số 52K8-6862, các chủ sở hữu đã nhận lại đủ tài sản và không có ý kiến gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí, căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Gia B là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú đề nghị về tội danh, hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử lý vật chứng và án phí là có căn cứ như đã nhận định tại các phần trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 106; Điều 136; khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 269; Điều 292, Điều 293; Điều 329; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bị cáo Nguyễn Gia B phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Gia B 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 18 tháng 6 năm 2021.

3. Về xử lý vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy các vật chứng và đồ vật trực tiếp liên quan đến tội phạm, gồm:

- 02 (hai) bịch nylon, được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng là ma túy đã niêm phong;

- 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy (một chai nhựa trong suốt có nắp màu đỏ, gắn kèm cái nỏ và ống hút nhựa màu xanh);

- 01 (một) chai gas mini bằng kim loại màu trắng;

- 02 (hai) bật lửa màu nâu;

- 01 (một) cây dao bấm bằng kim loại màu trắng, cán bằng gỗ;

- 01 (một) cái bật lửa đã vỡ đầu gắn với cây tim bằng kim loại màu trắng;

- 01 (một) lưỡi dao bằng kim loại màu trắng;

- 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng.

4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Gia B phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ