vanban.org

Bản án 19/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên Tuyên án 28/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Vàng Khua S phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Vàng Khua S 01 (Một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28 tháng 9 năm 2021. Vật chứng: Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a Khoản 2, khoản 3 Điều 106 của BLTTHS:… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng Khua S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vàng Khua S phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƢỜNG ẢNG
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2021/HS-ST
Ngày: 28-12-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG ẢNG - TỈNH ĐIỆN BIÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Hảng A Nếnh

2. Ông: Lò Văn Thủy

- Thư ký phiên tòa: Bà: Hoàng Thị Hồng Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Minh Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2021/ TLST-HS, ngày 25 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2021/QĐXXST – HS ngày 15 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vàng Khua S; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1974 tại huyện M, tỉnh Điện Biên; Nơi ĐKNKTT: Bản P, xã Ẳ, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản P, xã Ẳ, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm nông nghiệp; trình độ văn hóa: Không; Giới tính: Nam; Dân tộc: Mông; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Vàng Phá D (đã chết) và bà Hờ Thị D (đã chết); Bị cáo sống chung như vợ, chồng với chị: Sùng Thị V, sinh năm 1977 và có 08 người con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/9/2021 cho đến ngày xét xử, bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Vàng Khua S: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1965; Luật Sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên. (Có mặt tại phiên tòa).

Người phiên dịch cho bị cáo: Anh Hảng A P, sinh năm 1990.

Trú tại: Bản H, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. (Có mặt tại phiên tòa)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Sùng A C, sinh năm 1994.

Nơi cư trú: Bản P, xã Ẳ, huyện M, tỉnh Điện Biên; (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì hành vi phạm tội của Vàng Khua S được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 20 phút ngày 28 tháng 9 năm 2021, tại bản H, xã Ẳ, huyện M, Vàng Khua S đã có hành vi tàng trữ 0,24 gam Heroine mục đích để sử dụng.

Quá trình điều tra đã làm rõ: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 28/9/2021 Vàng Khua S điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 27Y1 - 02745 từ nhà đến bản Pá L, xã Ẳ, huyện M để tìm hỏi mua ma túy về sử dụng. Khi S đi đến khu vực bản Pá L, xã Ẳ thì gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Mông không rõ tên, tuổi, địa chỉ 02 gói nhỏ Heroine (01 gói được gói bằng mảnh túi nilon màu xanh, 01 gói được gói bằng mảnh túi nilon màu trắng) với giá 100.000đồng. Sau khi mua được ma túy Vàng Khua S cất giấu 02 gói nhỏ Heroine vừa mua được vào trong túi nilon đựng thuốc lào, một mặt có chữ “PHẠM TIẾN”, một mặt túi màu trắng, ròi cất giấu vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi về. Trên đường về đến khoảng 18 giờ 20 phút đến bản H. xã Ẳ, huyện M thì gặp Tổ Công tác Công an huyện Mường Ảng đang làm nhiệm vụ. Khi nhìn thấy Tổ công tác, S tăng ga xe bỏ chạy nhưng bị tổ công tác khống chế. Kiểm tra, phát hiện thu giữ 02 gói nhỏ Heroine. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong thu giữ 0,24 gam Heroine.

Ngày 30/9/2021 Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Ảng quyết định khởi tố vụ án hình sự và Quyết định khởi tố bị can đối với Vàng Khua S về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại biên bản niêm phong vật chứng hồi 18 giờ 55 phút ngày 28/9/2021 thì vật chứng thu giữ của Vàng Khua S là 02 gói nhỏ chất bột màu trắng (01 gói được gói bằng mảnh túi nilon màu xanh, 01 gói được gói bằng mảnh túi nilon màu trắng) nghi là Heroine.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 28/9/2021 thì 02 gói gói nhỏ chất bột màu trắng nghi là Heroine (01 gói được gói bằng mảnh túi nilon màu xanh, 01 gói được gói bằng mảnh túi nilon màu trắng) có khối lượng là: 0,24 gam.

Tại bản kết luận giám định số: 1134/GĐ – PC 09, ngày 07/10/2021 của cơ quan giám định kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Vàng Khua S gồm: 0,24 gam chất bột màu trắng là ma túy: Loại Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 9, mục IA, danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018; Không hoàn lại mẫu sau khi giám định.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Cáo trạng số: 98/CT - VKSMA, ngày 23/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đã truy tố bị cáo Vàng Khua S về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật đã áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Vàng Khua S từ 01 năm 01 tháng đến 01 năm 03 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a Khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 0,18 gam Heroine là vật chứng còn lại của vụ án.

Trả lại cho anh Sùng A C 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại JUPITER, màu sơn Xám- Bạc- Đen, Biển kiểm soát 27Y1 – 02745.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí đề nghị miễn án phí HSST cho bị cáo Vàng Khua S.

* Nội dung bản luận cứ của người bào chữa cho bị cáo Vàng Khua S nhất trí với nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo Vàng Khua S về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS đề nghị Hội đồng xét xử khi Quyết định hình phạt xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất mức đề nghị của đại diện viện kiểm sát.

Về án phí: Bị cáo Vàng Khua S là người đồng bào dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí. Đề nghị HĐXX xem xét áp dụng điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Định 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, miễn án phí HSST cho bị cáo.

Bị cáo Vàng Khua S nhất trí nội dung bản luận cứ của người bào chữa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Sùng A C có đơn xin lại tài sản 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại JUPITER, màu sơn Xám- Bạc-Đen, Biển kiểm soát 27Y1 – 02745 và không yêu cầu gì thêm.

Lời nói sau cùng, Vàng Khua S nhận phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Nội dung vụ án: Hồi 18 giờ 20 phút ngày 28 tháng 9 năm 2021, tại bản H, xã Ẳ, huyện M, Vàng Khua S đã có hành vi tàng trữ 0,24 gam Heroine mục đích để sử dụng.

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các lời khai của bị cáo và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với biên bản niêm phong tài liệu đồ vật và biên bản xác định khối lượng ngày 28/9/2021 và kết luận giám định số: 1134/GĐ – PC 09, ngày 07/10/2021 của cơ quan giám định kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên, cũng như biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 18 giờ 20 phút ngày 28/9/2021 đối với Vàng Khua S.

Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Vàng Khua S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào những quy định của Nhà nước trong việc quản lý, sử dụng các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần xử lý nghiêm minh nhằm răn đe và phòng ngừa chung.

. Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù.

. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại huyện M, tỉnh Điện Biên không được đi học ở nhà lao động sản xuất cùng gia đình. Năm 1995 sống chung như vợ chồng với chị Sùng Thị V và có 08 người con. Bị cáo là một người chồng, người cha, có nhận thức pháp luật nhưng nhưng do thiếu ý thức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên đã bất chấp pháp luật, đi vào con đường phạm tội. Bản thân bị cáo là người nghiện chất ma túy, nên có nhân thân không tốt. Bởi vậy Hội đồng xét xử cần đưa ra mức hình phạt thật nghiêm khắc, để cải tạo giáo dục bị cáo và cũng là cơ hội để bị cáo cai nghiện ma túy. Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1, Điều 51 BLHS. Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nên Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống, xã hội một thời gian để bị cáo sửa chữa tội lỗi của mình, sau này trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 của BLHS.

Theo khoản 5 Điều 249 của BLHS quy định bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Song xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo không có khả năng thi hành, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát; người bào chữa cho bị cáo xét thấy phù hợp nên hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

. Về vật chứng: Hội đồng xét xử thấy rằng: 0,18 gam Heroine là vật chứng còn lại sau khi gửi mẫu giám định cần tịch thu tiêu hủy.

01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại JUPITER, màu sơn Xám-Bạc- Đen, Biển kiểm soát 27Y1 – 02745 bị cáo khai mượn của anh Sùng A C anh C không biết bị cáo dùng vào việc phạm tội nên trả lại cho anh C. Anh C không yêu cầu bị cáo bồi thường về trách nhiệm dân sự nên HĐXX không xem xét.

Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người đàn ông dân tộc Mông không rõ tên, tuổi, địa chỉ vào ngày 28/9/2021. Quá trình điều tra không có cơ sở để làm rõ đối tượng nên HĐXX không xem xét.

. Về án phí: Bị cáo Vàng Khua S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Nhưng bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí nên miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

. Trong quá trình điều tra, truy tố thấy rằng: Các hành vi, Quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, người bào chữa cho bị cáo đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Vàng Khua S phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Vàng Khua S 01 (Một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28 tháng 9 năm 2021.

2. Vật chứng: Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a Khoản 2, khoản 3 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 0,18 gam Heroine là vật chứng còn lại sau khi gửi mẫu giám định.

Trả lại cho anh Sùng A C 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại JUPITER, màu sơn Xám - Bạc - Đen, số khung: CRCJ2S0106Y018193; số máy: 2S01-018193; Biển kiểm soát 27Y1 – 02745, xe đã qua sử dụng.

(Chi Cục thi hành án dân sự huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/11/2021).

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí HSST cho bị cáo Vàng Khua S.

4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Căn cứ Điều 331, Điều 333 BLTTHS: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.

Cỡ chữ