vanban.org

Bản án 19/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 19/11/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/11/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Đức T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật tố tụng hình; Điều 357 Bộ luật tố tụng hình; Điều 56 Bộ luật hìh sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2021/HS-PT
Ngày: 19/11/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN

T phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Chu Đức Quế

Các Thẩm phán:

Ông Hà Quang Huy

Ông Nguyễn Khánh Phương

Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn

Đại diện Viện kiểm sát tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Nông Văn Đổi - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 25/2021/TLPT-HS ngày 01 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo Nông Đức T do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 27/2021/HS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Btỉnh Bắc Kạn.

* Bị cáo không kháng cáo nhưng bị kháng nghị:

Nông Đức T; Sinh ngày 16 tháng 6 năm 2001 tại Bắc Kạn; HKTT và chỗ ở: Thôn 1B K, xã S, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Đức K và bà Nông Thị N; vợ: Triệu Thị Q và có 01 con; tiền án: Không; tiền sự: 01, Ngày 25/12/2020 bị Công an huyện B xử phạt hành chính 1.000.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/5/2021 đến ngày 29/6/2021 thì đi chấp hành án phạt tù của bản án số 45/2021/HSST ngày 18/8/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn tại Trại giam Công an tỉnh Bắc Kạn. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 22 giờ 15 phút ngày 27/5/2021 tại khu vực thôn N, xã V, huyện B tổ công tác công an xã V phát hiện bắt quả tang Nông Đức T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ tại túi quần bên phải của T đang mặc 01 xilanh nhựa đã qua sử dụng, niêm phong trong phong bì ký hiệu “T1”; 01 gói nhỏ được gói bằng hai lớp túi nilong màu trắng, bên trong có chất màu trắng dạng cục. Qua thử phản ứng nhanh phát hiện chất ma túy kết quả phù hợp với đặc trưng phản ứng của ma túy. Tiến hành niêm phong trong phong bì ký hiệu “T”. Ngoài ra còn thu giữ 01 điện thoại nhãn hiệu Mobell màu đỏ đã qua sử dụng niêm phong ký hiệu “T2”.

Ngày 28/5/2021 Cơ quan CSĐT công an huyện B lập biên bản cân xác định khối lượng chất màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu “T” có khối lượng 3,634g. Sau khi cân niêm phong lại ký hiệu “GĐ” gửi giám định.

Tại kết luận giám định số: 101/KTHS-MT ngày 01/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất bột màu trắng dạng cục có trong phong bì niêm phong ký hiệu “GĐ” gửi giám định là chất ma túy, loại Heroin có khối lượng 3,634 gam.

Tại bản án Hình sự sơ thẩm số 27/2021/HSST ngày 23/8/2021 của Tòa án nhân dân huyện B đã tuyên bố bị cáo Nông Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 56/BLHS. Xử phạt bị cáo Nông Đức T 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 14 (mười bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số 45/2021/HSST ngày 18/5/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 56 (năm mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày 28/5/2021.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo không có kháng cáo.

Ngày 21/9/2021 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn có quyết định kháng nghị số 03/QĐ-VKSTBK với nội dung: Kháng nghị một phần (phần tổng hợp hình phạt) của bản án hình sự sơ thẩm số 27/2021/HSST ngày 23/8/2021 của Tòa án nhân dân huyện B. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xét xử theo trình tự phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng: Trừ thời gian tạm giữ từ ngày 07/01/2021 đến ngày 15/01/2021 vào thời gian chấp hành hình phạt tù cho bị cáo Nông Đức T

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quyết định kháng nghị.

Bị cáo Nông Đức T thừa nhận hành vi phạm tội bị cáo thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội danh và hình phạt như vậy là đúng đề nghị trừ thời gian tạm giữ cho bị cáo theo quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn là đúng trình tự, thủ tục, đúng thời hạn quy định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

. Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, và khẳng định việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh và hình phạt như vậy là đúng, không oan. Căn cứ vào lời khai của bị cáo và các chứng cứ khác có trong hồ sơ đủ cơ sở kết luận: Ngày 27/5/2021 bị cáo Nông Đức T đã có hành vi tàng trữ 3,634 gam ma túy tại túi quần phía trước bên phải bị cáo đang mặc mới mục đích để sử dụng cho bản thân. Do đó,Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điên c khoản 1 Điều 249/BLHS là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

. Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn thấy: Việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Điều 56 Bộ luật hìh sự để tồng hợp hình phạt của 02 bản án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là 56 tháng tù là đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Cấp sơ thẩm xác định thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/5/2021 (là ngày bắt tạm giữ tạm giam của bản án số 27/2021/HSST ngày 23/8/2021) là chưa đúng. Bởi lẽ, tại bản án số 45/2021/HSST ngày 18/5/2021 của Tòa án nhân dân T phố Bắc Kạn bị cáo Nông Đức T đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/01/2021 đến ngày 15/01/2021. Việc Tòa án cấp sơ thẩm không trừ thời gian tạm giữ tạm giam của bị cáo vào thời hạn chấp hành án gây bất lợi cho bị cáo và trái với quy định tại khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự “Thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù, cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 01 ngày tù”. Do đó, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn là có căn cứ, cần được chấp nhận.

. Về án phí: Bị cáo không kháng cáo nên không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật tố tụng hình năm 2015 chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn. Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm 27/2021/HSST ngày 23/8/2021 của Tòa án nhân dân huyện Btỉnh Bắc Kạn.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 56/BLHS. Xử phạt bị cáo Nông Đức T 42 (bốn mươi hai) tháng tù “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp với hình phạt 14 (mười bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số 45/2021/HSST ngày 18/5/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 56 (năm mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày 28/5/2021 được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/01/2021 đến ngày 15/01/2021

2. Án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ