- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "đòi nợ tiền"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đề ngày 26/02/2021 của Ngân hàng Ch đối với ông Lê Văn Đ ;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM TỈNH KON TUM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2021/DS-ST Ngày 10-6-2021 “V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ K, TỈNH K
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hoài.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trương Duy Cảnh.
2. Bà Chế Thị Mai.
- Thư ký phiên tòa: Ông A Dáo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố K, tỉnh K.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố K, tỉnh K tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Dũng – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2021, Tòa án nhân dân thành phố K, tỉnh K xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 55/2021/TLST-DS ngày 10 tháng 03 năm 2021 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2021/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Ch, địa chỉ: Số 169 phố Linh Đường, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết Th- Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Ch – Phó Giám đốc NH - Chi nhánh tỉnh K, địa chỉ: 309 D, thành phố K, tỉnh K, có mặt;
- Bị đơn: Ông Lê Văn Đ , sinh năm 1974, đại chỉ: Tổ 2, phường Tr, thành phố K, tỉnh K, vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 26/2/2021, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày và yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề như sau:
Ngày 18/03/2014 Ngân hàng Ch – Chi nhánh K(Sau đây gọi tắt là: Ngân hàng) cho ông Lê Văn Đ vay số tiền 30.000.000 đồng theo chương trình cho vay hộ nghèo để trồng cao su, lãi suất 0,65%/tháng, lãi quá hạn 0,845%/tháng, lãi trả vào ngày 22 hàng tháng; thời hạn vay 60 tháng, phân kỳ trả nợ gốc là 12 tháng/lần, mỗi lần trả 6.000.000 đồng, hạn trả nợ cuối cùng vào ngày 22/03/2019, theo mã món vay số 66000000700811599, người đứng tên vay ông Lê Văn Đ . Ông Đ đã trả được 10.475.865 đồng tiền lãi trong hạn. Sau đó ông Đ đã vi phạm thời hạn trả nợ gốc và lãi theo thỏa thuận. Từ ngày 23/3/2019 ngân hàng đã điều chỉnh sang lãi suất nợ quá hạn. Tính đến ngày 10/06/2021 ông Đ còn nợ tiền gốc 30.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn 1.393.135 đồng và lãi quá hạn 6.708.405 đồng. Cộng gốc và lãi 38.101.540 đồng.
Nay ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc ông Đ trả số tiền nợ gốc và lãi là 38.101.540 đồng và tiền lãi suất phát sinh từ sau ngày 10/6/2021 đến khi trả hết nợ, theo mức lãi suất nợ quá hạn thỏa thuận trong hợp đồng vay.
- Bị đơn ông Lê Văn Đ không thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; không thực hiện quyền, nghĩa vụ chứng minh, cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp của mình.
- Ý kiến quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
Việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên toà đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS); người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật;
Ông Đ thường xuyên vắng mặt nơi cư trú; chính quyền địa phương không biết bà phương đi đâu và khi nào quay trở về nhà. Do đó Tòa án đã niêm yết công khai các văn bản tố tụng tại nơi cư trú và xét xử vụ án vắng mặt ông Đ là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của BLTTDS.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng các điều 280, 282, 463, 466, 470, 468 và điểm b khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự; chấp nhận đơn khởi kiện của ngân hàng, buộc ông Đ trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và lãi là 38.101.540 đồng và tiền lãi suất phát sinh từ sau ngày 10/6/2021 đến khi trả hết nợ. Ông Đ phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
- Ngân hàng khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay vốn tín dụng đối với bà Phương. Tại thời điểm thụ lý thì ông Đ có nơi cư trú tại tổ 2, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Kon Tum. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố K, tỉnh K.
- Sau khi thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần đến nhà để tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng ông Đức, nhưng ông không có ở nhà và thường xuyên đóng cửa nhà. Tòa án tiến hành xác minh tại chính quyền địa phương, thì xác định ông Đ có đăng ký hộ khẩu thường trú và thường xuyên sinh sống tại địa chỉ: Tổ 2, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Kon Tum. Tuy nhiên hiện nay gia đình ông Đ thường xuyên vắng mặt ở nhà, chính quyền không biết gia đình ông đi đâu và khi nào quay trở về nhà. Do đó Tòa án đã tiến hành thủ tục niêm yết công khai thông báo thụ lý vụ án các văn bản tố tụng tại nơi cư trú của ông Đức, để làm căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Ông Đ đã được thông báo và triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 BLTTDS, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Đức.
Về nội dung:
[1] Xét yêu cầu của ngân hàng buộc ông Lê Văn Đ trả tiền nợ gốc và lãi suất cho ngân hàng, xét thấy: Theo Sổ vay vốn; Sổ theo dõi cho vay; Giấy đề nghị vay vốn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định vào ngày 18/03/2014, Ngân hàng cho ông Đ vay số tiền 30.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận 0,65%/tháng, lãi quá hạn 0,845%/tháng, lãi trả vào ngày 22 hàng tháng; thời hạn vay 60 tháng, phân kỳ trả nợ gốc là 12 tháng/lần, mỗi lần trả 6.000.000 đồng, hạn trả nợ cuối cùng vào ngày 22/03/2019. Sau khi vay ông Đ đã vi phạm thời hạn trả nợ gốc và lãi theo thỏa thuận; ông Đ mới trả được 10.475.865 đồng tiền lãi trong hạn. Tính đến ngày 10/06/2021 ông Đ còn nợ tiền gốc 30.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn 1.393.135 đồng và lãi quá hạn 6.708.405 đồng. Cộng gốc và lãi 38.101.540 đồng.
Do đó, ngân hàng yêu cầu ông Đ trả số tiền nợ gốc và lãi suất tính đến ngày10/6/2021 là 38.101.540 đồng và tiền lãi suất phát sinh từ sau ngày 10/6/2021 đến khi trả hết nợ, là có căn cứ được chấp nhận.
[2] Về án phí: Ông Đ phải trả cho ngân hàng số tiền 38.101.540 đồng, nên phải chịu 405.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 280, 282, 463, 466, 470, 468 và điểm b khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự. Tuyên xử:
1. Chấp nhận đơn khởi kiện về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đề ngày 26/02/2021 của Ngân hàng Ch đối với ông Lê Văn Đ ;
2. Buộc ông Lê Văn Đ phải trả cho Ngân hàng Ch – Chi tỉnh nhánh tỉnh Kon Tum số tiền nợ gốc và lãi suất tính đến ngày 10/6/2019 là 38.101.540 đồng (Ba mươi tám triệu, một trăm lẻ một nghìn, năm trăm bốn mươi đồng).
Áp dụng án lệ số 08/2016/AL, ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 144, khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Ông Lê Văn Đ phải chịu 405.000 (Bốn trăm lẻ năm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (10/6/2021). Bị vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Kon Tum; - VKSND tỉnh Kon Tum; - VKSND TP. Kon Tum; - Chi cục THADS TP.Kon Tum; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Xuân Hoài |