vanban.org

Bản án 19/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín đối với bà LNC. Buộc bà LNC có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín do Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín– Chi nhánh An Giang đại diện nhận số tiền 44.554.000 đồng (bốn mươi bốn triệu, năm trăm năm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp HĐ tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THOẠI SƠN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:19/2021/DS-ST
Ngày 18/3/2021
V/v: “T/c Hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Vân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hòa

2. Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thanh Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Dáng Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 179/2020/TLST-DS ngày 21 tháng 10 năm 2020 về việc “tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2021/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 01 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 48/2020/QĐST-DS ngày 25 tháng 02 năm 2021, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín

Địa chỉ: Số 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Minh Sơn – Giám đốc Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh An Giang(Theo văn bản ủy quyền số 3977/2020/QĐ-PL ngày 28/12/2020 của Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín).

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Bền, sinh năm 1992 – Phó phòng giao dịch Phú Hòa – Chi nhánh An Giang (Theo văn bản ủy quyền ngày 21/7/2020 của Giám đốc Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh An Giang). (Có mặt).

* Bị đơn: Bà LNC, sinh năm 1963

Địa chỉ: Ấp Phú An, thị trấn Phú Hòa, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 21/7/2020, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín ủy quyền cho ông Nguyễn Văn Bền trình bày như sau:

Ngày 18/4/2019, Ngân hàng TMCP Kiên Long – chi nhánh An Giang – PGD Phú Hòa An Giang (Ngân hàng) với bà LNC có thỏa thuận ký 02 hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số 01161-00332 và số 01161-00333. Nội dụng hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số 01161-00332 là Ngân hàng cho bà C vay số tiền 20.000.000 đồng, mục đích vay: bổ sung vốn kinh doanh bán thịt heo, thời hạn vay 366 ngày, lãi suất cho vay 24%/năm và theo thỏa thuận, bà C phải trả cho Ngân hàng gốc và lãi là 24.813.151 đồng, mỗi ngày trả 67.900 đồng, ngày cuối cùng trả 29.651 đồng. Nội dung hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số 01161-00333 là Ngân hàng cho bà C vay số tiền 30.000.000 đồng, mục đích vay: bổ sung vốn kinh doanh bán thịt heo, thời hạn vay 366 ngày, lãi suất cho vay 24%/năm và theo thỏa thuận, bà C phải trả cho Ngân hàng gốc và lãi là 37.219.726 đồng, mỗi ngày trả 101.800 đồng, ngày cuối cùng trả 62.726 đồng. Tổng cộng 2 hợp đồng, bà C vay của Ngân hàng số tiền 50.000.000 đồng và mỗi ngày bà C phải trả số tiền là 169.700 đồng.

Trong thời hạn thực hiện hợp đồng, bà C chỉ trả gốc và lãi cho Ngân hàng được 103 ngày với số tiền 17.749.000 đồng (trong đó tiền vốn là 17.215.100 đồng, tiền lãi là 264.000 đồng) thì không trả tiếp. Khi bà C vi phạm nghĩa vụ trả nợ như thỏa thuận, Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, nhắc nhỡ, đôn đốc bà C thực hiện nghĩa vụ. Tuy nhiên, bà C vẫn không thực hiện nên tới nay còn nợ số tiền của 02 hợp đồng đã ký là 44.554.000 đồng (trong đó tiền vốn là 32.784.900 đồng, tiền lãi là 11.769.100 đồng).

Vì vậy, Ngân hàng yêu cầu bà C trả cho Ngân hàng số tiền gốc, lãi của 2 hợp đồng số 01161-00332 và số 01161-00333 cùng ngày 18/4/2019 là 44.554.000 đồng và lãi phát sinh theo hợp đồng cho tới khi thanh toán xong khoản nợ trên.

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Bền xác định không yêu cầu tính lãi suất phát sinh.

* Bị đơn bà LNC không có mặt trong quá trình giải quyết vụ án và cũng không có văn bản gởi cho Tòa án thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

* Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vi phạm quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự - vắng mặt không có lý do tại phiên tòa nên đã từ bỏ quyền của mình.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số 01161-00332 và số 01161-00333 cùng ngày 18/4/2019 có đủ cơ sở chứng minh bà LNC có vay của Ngân hàng TMCP Kiên Long - chi nhánh An Giang số tiền 50.000.000 đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà C đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà C có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền 44.554.000 đồng cùng lãi suất phát sinh theo hợp đồng cho đến khi thanh toán hết nợ. Tại phiên tòa, nguyên đơn tự nguyện rút yêu cầu tính lãi suất, đây là sự tự nguyện của nguyên đơn nên căn cứ đình chỉ phần yêu cầu này.

Từ những phân tích trên, đề nghị HĐXX áp dụng Điều 463, 466 Bộ Luật dân sự 2015; khoản 2 Điều 91, Điều 94, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 tuyên:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà LNC trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín số tiền 44.554.000 đồng (trong đó tiền vốn là 32.784.900 đồng, tiền lãi là 11.769.100 đồng).

Đình chỉ phần yêu cầu tính lãi suất phát sinh do nguyên đơn rút yêu cầu.

- Về án phí: Bà LNC phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

Về tố tụng:

Thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng khởi kiện bà LNC có nơi cư trú tại ấp Phú An, thị trấn Phú Hòa, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 26, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Thủ tục tố tụng: Bà C (là bị đơn trong vụ án) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên toà xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà C.

Về nội dung vụ án:

Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà C trả số tiền 44.554.000 đồng (trong đó tiền vốn là 32.784.900 đồng, tiền lãi là 11.769.100 đồng) theo 02 hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số 01161-00332 và số 01161-00333 cùng ngày 18/4/2019. Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn bà C đến để làm rõ vụ án, về việc có hay không việc bà ký 02 hợp đồng kiêm giấy nhận nợ với Ngân hàng vay số tiền tổng cộng là 50.000.000 đồng với lãi suất vay, mục đích vay, thời gian vay, số tiền đã trả, số tiền còn nợ như đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng trình bày. Tuy nhiên, bà C vẫn không có mặt cũng như không có văn bản nào gởi cho Tòa án để thể hiện ý kiến của mình. Do đó, HĐXX căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết.

Theo chứng cứ vụ án thể hiện, ngày 18/4/2019, Ngân hàng và bà C có ký 02 hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số 01161-00332 và số 01161-00333 với tổng số tiền vay là 50.000.000 đồng, vốn lãi chia đều. HĐXX xét thấy, 02 hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số 01161-00332 và số 01161-00333 cùng ngày 18/4/2019 ký kết giữa Ngân hàng với bà C được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận giữa các bên, hình thức và nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của Luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật nên đây là hợp đồng tín dụng hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Căn cứ theo hợp đồng tín dụng đã làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo quy định Điều 463, Điều 466 Bộ Luật dân sự 2015. Do đó, việc Ngân hàng khởi kiện bà C yêu cầu trả số tiền vốn là 44.554.000 đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 280, 466, 468 Bộ Luật dân sự 2015.

Đối với phần lãi suất: Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện không yêu cầu tính lãi suất phát sinh đối với bà C nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự để đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với phần yêu cầu tính lãi suất phát sinh.

Từ những phân tích trên, có cơ sở buộc bà C có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền 44.554.000 đồng (trong đó tiền vốn là 32.784.900 đồng, tiền lãi là 11.769.100 đồng).

Lời phát biểu của Kiểm sát phiên tại phiên tòa về nội dung giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên được HĐXX chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên bà C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 156, Điều 157, Điều 158, Điều 227, Điều 244, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 280, Điều 357, Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự;

- Điều 91, Điều 94, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng 2010;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9 và Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín đối với bà LNC.

Buộc bà LNC có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín do Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín– Chi nhánh An Giang đại diện nhận số tiền 44.554.000 đồng (bốn mươi bốn triệu, năm trăm năm mươi bốn ngàn đồng). Trong đó: Số tiền vốn là 32.784.900 đồng, tiền lãi là 11.769.100 đồng.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín đối với phần yêu cầu tính lãi suất phát sinh theo hợp đồng.

* Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà LNC phải nộp 2.228.000 đồng (hai triệu hai trăm hai mươi tám ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

- Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín do Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh An Giang đại diện nhận số tiền 1.114.000đ (một triệu một trăm mười bốn ngàn đồng) là tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004040 ngày 21/10/2020 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn.

* Về quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bà C được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, điều 7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ