- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hứa Văn Hậu - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hứa Văn H phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TAND TỈNH TN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TAND TP TN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2020/HSST Ngày: 19/02/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TN – TỈNH TN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Minh Huệ
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Quảng Thái 2. Bà Trần Thanh Vân
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thu Hoài – Thư ký Toà án nhân dân TP TN.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP TN tham gia phiên toà:
Ông Vũ Xuân Đại - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2020, tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân thành phố TN xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 07/2020/HSST ngày 06/01/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2020/QĐXXST - HS ngày 04/02/2020 đối với bị cáo.
Họ và tên: Hứa Văn H, sinh ngày: 21/5/1979; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Xóm NP, xã PT, huyện VN, tỉnh TN; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 4/12; Nghề nghiệp: Không; Chức vụ (Đảng, chính quyền, đoàn thể) trước khi phạm tội: Không; Con ông: Hứa Văn S, (Đa chết); Con bà: Phạm Thị N, sinh năm 1947; Gia đình có 06̃ anh, em. Bị cáo là con thứ năm; Vợ: Lường Thị Vui, sinh năm 1982 đã ly hôn; Có hai con: Lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2004; Tiền án: Không,
- Tiền sự: Tại Quyết định số 347/QĐ – TA ngày 01/02/2018 của Tòa án nhân dân thành phố TN về việc áp dụng biên pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hứa Văn H trong thời hạn 15 tháng. Chấp hành xong ngày 05/3/2019.
- Nhân thân:
+ Tại Quyết định số 347/QĐ – UB ngày 09/10/2008 của Ủy ban nhân dân xã PT, huyện VN, tỉnh TN về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã đối với Hứa Văn H trong thời hạn 6 tháng.
+ Tại Bản án số 27/2009/HSST ngày 09/9/2009 của Tòa án nhân dân huyện VN, tỉnh TN xử phạt Hứa Văn H 36 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/10/2011. Chấp hành xong khoản án phí ngày 18/7/2012.
+ Tại Bản án số 334/HSST ngày 21/5/2014 của Tòa án nhân dân thành phố TN xử phạt Hứa Văn H 42 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/2/2017, chấp hành xong án phí ngày 02/4/2015.
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh TN (Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/11/2019 đến nay)
(Có mặt tại phiên tòa)
Ngƣời chứng kiến:
1. Ông Trần Quang B, sinh năm 1966 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 17, phường T L, thành phố TN, TN.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 11/11/2019, tổ công tác Công an phường Tân Long, thành phố TN đang làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 17, phường thì phát hiện 01 người đàn ông có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, người đàn ông khai tên Hứa Văn H và tự giác lấy từ trong lòng bàn tay phải ra 02 gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng giao nộp, theo H khai đó là Heroine. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang và thu giữ niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tiến hành mở niêm phong cân xác định: Số chất bột màu trắng trong 02 gói giấy bạc màu vàng thu giữ được của Hứa Văn H có khối lượng 0,241 gam.
Tại Kết luận giám định số 1461/KL-KTHS ngày 19/11/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TN, kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Hứa Văn H trong bì ký hiệu H1 gửi giám định là chất ma tuý, loại Heroine, có khối lượng là 0,241 gam.
Tại Cơ quan điều tra Hứa Văn H khai nhận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 11/11/2019 H bắt xe buýt từ khu vực Dốc Lim thuộc phường Thịnh Đán, thành phố TN đến khu vực nghĩa trang thuộc tổ 17, phường Tân Long, thành phố TN mục đích tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Khi đi đến nơi H đi bộ vào nghĩa trang. Tại đây, H gặp và mua của một người đàn ông không rõ lai lịch 02 gói Heroine được gói bằng giấy bạc màu vàng với giá 200.000 đồng. Mua xong, H cầm gói Heroine trong lòng bàn tay phải và đến khu vực phường Tân Long tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác của Công an phường Tân Long, thành phố TN bắt quả tang và thu giữ vật chứng như trên.
Lời khai nhận của Hứa Văn H phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến.
Vật chứng của vụ án: 01 bì niêm phong kí hiệu H1 (bên trong chứa 0,227 gam Heroine – mẫu còn lại sau giám định). Hiện đang được bảo quản ta ̣i kho vâ ̣t chứ ng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TN.
Tại bản cáo trạng số 16/CT- VKSTPTN, ngày 13/12/2019 Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN, tỉnh TN đã truy tố Hứa Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Kết thúc phần thẩm vấn, tại phần tranh luận, vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố TN giữ quyền công tố đã công bố bản luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hứa Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 136 BLTTHS; Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS 2015, Điều 106 BLTTHS năm 2015
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu H1.
- Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận, bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không bị oan, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào những chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Hứa Văn H tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp vật chứng đã thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Hồi 18 giờ 30 phút ngày 11/11/2019, tại khu vực tổ 17, phường Tân Long, thành phố TN, tỉnh TN, Hứa Văn H đang có hành vi tàng trữ 0,241 gam ma tuý loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường T L, thành phố TN phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng. Hành vi của Hứa Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS bị cáo được hưởng:
- Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy làm gia tăng tội phạm và tệ nạn xã hội gây mất ANTT tại địa phương. Việc đưa ra xét xử đối với bị cáo là cần thiết nhằm răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
- Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo không có tiền án, có 01 tiền sự và nhân thân rất xấu, bị cáo đã nhiều lần bị Tòa án xử phạt về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội điều này chứng tỏ bị cáo là người có ý thức chấp hành pháp luật kém. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, vì vậy được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS.
. Về hình phạt: Hội đồng xét xử thấy, để đảm bảo tính nghiêm minh của luật pháp cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Xét quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, nên xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo tốt sớm trở về với gia đình và xã hội, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức án đối với bị cáo, xét thấy là phù hợp nên chấp nhận.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội lẽ ra cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền để sung quỹ Nhà nước, nhưng qua xác minh bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản gì riêng, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS.
. Về vật chứng vụ án: áp dụng điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong trong bì ký hiệu H1.
. Các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, H khai mua của người nam giới không rõ lai lịch địa chỉ ở khu vực nghĩa trang thuộc phường Thịnh Đán, thành phố TN. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở làm rõ để xử lý.
. Bị cáo phải nộp án phí HSST và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào: Điểm c, khoản 1, Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Hứa Văn H phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Xử phạt: Bị cáo Hứa Văn H: 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 11/11/2019; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án;
2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS năm 2015:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu H1 bên trong có chứa chất ma túy, mặt sau các phong bì có 02 dấu tròn đỏ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TN cùng chữ ký của Mai Tố Uyên, Nguyễn Thành Trung.
(Vật chứng hiện đang lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố TN theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 109 ngày 27/12/2019).
3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của UBTV Quốc hội quy định về án phí, lệ phí toà án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND, Tỉnh, TP; - Công an TPTN; - THA phạt tù; - Sở Tư pháp TN; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đoàn Thị Minh Huệ |