- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2020/HS-ST Ngày 28- 4- 2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Nguyệt.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Bá Đoàn.
2. Ông Nguyễn Xuân Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Thúy - Thư ký Tòa án án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Phương Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 17/2020/HSST ngày 05 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2020/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2020 và Thông báo mở lại phiên tòa số 12/2020/TB-TA ngày 23 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo Bùi Văn T, sinh năm 1970; nơi ĐKHKTT: Bản K, xã Ph, huyện Th, tỉnh S; nơi cư trú: Thôn Ph 1, xã L, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 2/10; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Bùi Văn V (đã chết) và bà Hoàng Thị B (đã chết); có vợ và 02 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 27/10/2004, Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt 05 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Tạm giữ ngày 12/12/2019, tạm giam ngày 18/12/2019. Có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Đại Vương - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Nam. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Trịnh Hoài V1, sinh năm 1982; trú tại: Thôn Ph1, xã L, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Có mặt.
* Người làm chứng: Anh Trần Nam Trung, sinh năm 1979; trú tại: Xóm 1, thôn B1, xã L1, thành phố Ph, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 12/12/2019, Bùi Văn T, sinh năm 1970, trú tại thôn Ph1, xã L, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam điều khiển xe mô tô nhãn hiệu LONCIN BKS 18Z4-2005 đến khu vực chợ D thuộc xã Đ, huyện Ư, thành phố Hà Nội mua 200.000đồng ma túy của một nam thanh niên không quen biết đứng ven đường, mục đích để sử dụng. Khi mua được ma túy, Toán cất vào túi quần phía trước bên phải rồi điều khiển xe mô tô đi về đến nghĩa trang thôn Ph2, xã T, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tìm chỗ sử dụng thì bị Công an tỉnh Hà Nam bắt quả tang. Thu giữ trong túi quần bên phải phía trước của Bùi Văn T đang mặc 01 gói ni lon màu xanh hàn kín, bên trong có một gói giấy, loại giấy bằng vỏ bao thuốc lá Thăng Long mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng niêm phong ký hiệu QT01 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mastel niêm phong kí hiệu QT02. Tạm giữ của Bùi Văn T 01 xe mô tô nhãn hiệu LONCIN BKS 18Z4-2005.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Bùi Văn T tại thôn Ph1, xã L, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam không phát hiện thu giữ tài liệu, đồ vật gì.
Tại bản kết luận giám định số 217/PC09-MT ngày 16/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,242gam, loại Heroine.
Về nguồn gốc số ma túy thu giữ trong vụ án: Bùi Văn T khai nhận mua của nam thanh niên không quen biết ở khu vực xã Đ, huyện Ư, thành phố Hà Nội. Do Bùi Văn T không biết họ tên, địa chỉ cụ thể và không nhớ đặc điểm nhận dạng của nam thanh niên bán ma túy nên Cơ quan điều tra không xác minh, làm rõ được.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu LONCIN BKS 18Z4-2005 là tài sản hợp pháp của chị Trịnh Hoài V. Chị V không biết Bùi Văn T mượn xe để dùng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho chị V.
Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKSKB ngày 02/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đã truy tố Bùi Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Bùi Văn T từ 30 đến 36 tháng tù. Thời hạn tù, tính từ ngày tạm giữ 12/12/2019. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong nguyên vẹn số 217/PC09-MT của Công an tỉnh Hà Nam, phần kính gửi đề mẫu vật hoàn trả QT01. Trả cho bị cáo Bùi Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đỏ đen đã qua sử dụng. Ngoài ra Viện kiểm sát còn đề nghị về án phí và quyền kháng cáo. Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất. Bị cáo nhất trí với cáo trạng, luận tội của Viện kiểm sát, ý kiến bào chữa của người bào chữa, bị cáo không bổ sung, tranh luận gì. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát về xử lý vật chứng và không có ý kiến gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Kim Bảng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.
Tại phiên tòa và quá trình điều tra bị cáo Bùi Văn T thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định về chất ma túy, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Tòa án có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 12/12/2019, tại thôn Phù Đê, xã Tượng Lĩnh, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Nam bắt quả tang Bùi Văn T, sinh năm 1970, trú tại thôn Ph1, xã L, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam cất giữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,242 gam tại túi quần bên phải phía trước đang mặc, mục đích để sử dụng. Hành vi đó của Bùi Văn T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy". Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại trực tiếp đến khách thể được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ, đó là chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì chất ma túy không những trực tiếp hủy hoại sức khỏe con người, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia mà còn là nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng tội phạm.
Xét về mặt chủ quan của tội phạm, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý biết rõ hành vi cất giữ 0,242gam Heroine trong túi quần bên phải phía trước của mình với mục đích để sử dụng bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn thực hiện. Do đó phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của Viện kiểm sát mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và phòng chống tội phạm chung
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng bị cáo không phải chịu nhưng bị cáo có nhân thân xấu.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 500.000.000đồng...hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản". Do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên theo các các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo thì bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về nguồn gốc ma túy thu giữ: Bùi Văn T khai nhận mua của nam thanh niên không quen biết ở khu vực xã Đ, huyện Ứ, thành phố Hà Nội. Do T không biết họ tên, địa chỉ cụ thể và không nhớ đặc điểm nhận dạng của nam thanh niên bán ma túy nên Cơ quan điều tra không xác minh, làm rõ được.
Về xử lý vật chứng: Gồm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mastel đã thu giữ là tài sản hợp pháp của bị cáo nhưng không phải là vật chứng nên trả lại cho bị cáo. 01 phong bì niêm phong nguyên vẹn số 217/PC09-MT của Công an tỉnh Hà Nam, phần kính gửi đề mẫu vật hoàn trả QT01 là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy theo quy định Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu LONCIN BKS 18Z4-2005 là tài sản hợp pháp của chị Trịnh Hoài V. Chị V không biết Bùi Văn T mượn xe để dùng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho chị V là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù, tính từ ngày tạm giữ 12/12/2019.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong nguyên vẹn số 217/PC09-MT của Công an tỉnh Hà Nam, phần kính gửi đề mẫu vật hoàn trả QT01. Trả lại cho bị cáo Bùi Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đỏ đen, đã qua sử dụng (Tình trạng, đặc điểm các vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Kim Bảng với Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Bảng ngày 03/3/2020).
3. Án phí: Căn cứ Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Bùi Văn T phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Hà Nam (để b/c);
- VKSND tỉnh Hà Nam;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND huyện Kim Bảng;
- Công an huyện Kim Bảng;
- Chi cục T.H.A dân sự huyện Kim Bảng;
- Bị cáo;
- Người bào chữa;
- Người có QLNVLQ;
- Lưu hồ sơ.
Bùi Thị Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Bùi Thị Nguyệt
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam (để b/c); - VKSND tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện Kim Bảng; - Công an huyện Kim Bảng; - Chi cục T.H.A dân sự huyện Kim Bảng; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Người có QLNVLQ; - Lưu hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Thị Nguyệt |