vanban.org

Bản án 19/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hồng Bàng, TP. Hải Phòng Tuyên án 23/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo có quyền háng cáo trong thời hạn 15 ngày, ể từ ngày tuyên án.

TAND thành phố Hải Phòng; VKSND thành phố Hải Phòng; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "DTN - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo có quyền háng cáo trong thời hạn 15 ngày, ể từ ngày tuyên án.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2020/HS-ST
Ngày 23-4-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Hữu Hường

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Ngọc Hải

Bà Đinh Thị Kiều Nhung

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cẩm Vân - Thư Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công hai vụ án hình sự sơ thẩm thụ l số: 19/2020/TLST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2020/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2020 và Thông báo số: 01/TB-TA ngày 31 tháng 3 năm 2020 về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa, đối với bị cáo:

DTN, sinh ngày 01 tháng 8 năm 1958, tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số 32/82/30 A, phường B, quận C, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học v n: Lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông D (đã chết) và bà E (đã chết); có chồng là F và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ ngày 03-12-2019; tạm giam ngày 09-12-2019; có m t.

- Người chứng kiến:

1. Ông NCK1; vắng m t;

2. Bà NCK2; vắng m t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 03-12-2019, DTN đi xe đạp điện từ nhà đến hu vực đường tàu A, quận C, thành phố Hải Phòng tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đến nơi, DTN g p và hỏi mua của một người đàn ông không quen biết 2.500.000 đồng được 01 túi nilon trong có 10 gói gi y bạc chứa ma túy. DTN nhận và c t số ma túy vừa mua được vào trong túi quần phía trước bên trái đang m c rồi đi sang hu vực cầu G thuộc phường H, quận I để tìm nơi sử dụng. Đến hoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, hi đi đến chân cầu G, DTN bị Tổ công tác gồm Đội 3 Đoàn Đ c nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 1 Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển phối hợp cùng Công an phường Hạ L bắt quả tang. Thu giữ tại túi quần phía trước bên trái DTN đang m c 01 túi nilon trong có 10 gói gi y bạc chứa ch t bột mầu trắng nghi là ma túy, 01 xe đạp điện (đã qua sử dụng), 01 điện thoại di động màu đen hiệu No ia và số tiền 2.600.000 đồng. Tổ công tác đã đưa DTN cùng tang vật về trụ sở Công an phường Hạ L lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại Kết luận giám định số 591/KLGĐ ngày 03-12-2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Mẫu ch t bột màu trắng gửi giám định là ma túy có hối lượng 3,6616 gam, là loại Heroine.

Tại Cáo trạng số: 10/CT-VKSHB ngày 17-3-2020 của Viện iểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo DTN về tội Tàng trữ trái phép ch t ma túy theo điểm c hoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo hai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện iểm sát nhân dân quận Hồng Bàng đã truy tố và thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội.

Tại phiên toà, đại diện Viện iểm sát nhân dân quận Hồng Bàng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo DTN về tội Tàng trữ trái phép ch t ma túy như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 36 đến 42 tháng tù; hông áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hu số ma túy còn lại sau giám định; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động No ia màu đen (đã qua sử dụng) có số Imei 1: 355754100815953; Imei 2: 355754101015959 và số tiền 2.600.000 đồng. Bị cáo thuộc đối tượng người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo ăn năn về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về thủ tục tố tụng:

Những tài liệu, chứng cứ do Đoàn Đ c nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 1 Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển, Cơ quan điều tra Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên thu thập; bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng hác cung c p đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng hác trong vụ án hông ai có iến ho c hiếu nại về những tài liệu, chứng cứ đã thu thập, cung c p. Do đó những tài liệu, chứng cứ đã thu thập, cung c p trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Đoàn Đ c nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 1 Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển, Cơ quan điều tra Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện iểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng hác trong vụ án hông ai có iến ho c hiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về nhận định các tình tiết của vụ án:

Về chứng cứ xác định bị cáo có tội: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời hai nhận của bị cáo tại phiên tòa thống nh t và phù hợp với lời hai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp lời hai người người chứng iến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, ết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ hác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, đủ cơ sở xác định: Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 03-12-2019, DTN đã đến hu vực đường tàu A, quận C, thành phố Hải Phòng mua rồi c t giữ 10 gói gi y bạc chứa ma túy, có hối lượng 3,6616 gam là loại Heroine trong túi quần phía trước bên trái đang m c, mục đích để sử dụng cho bản thân mà hông nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xu t trái phép ch t ma túy. Như vậy, đủ căn cứ ết luận hành vi của bị cáo đã c u thành tội Tàng trữ trái phép ch t ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c hoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tính ch t vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó hông những đã xâm hại đến chính sách độc quyền quản l của Nhà nước về các ch t ma túy, mà còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm hác, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự trị an xã hội, gây tâm l bức xúc trong quần chúng nhân dân. Bởi vậy, cần phải được xử lý nghiêm.

Về tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự: Bị cáo hông có tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra, bị cáo thành hẩn hai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s hoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo là người cao tuổi (trên 60 tuổi) nên căn cứ hoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần coi đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hác đối với bị cáo.

Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Trên cơ sở đánh giá đầy đủ tính ch t và mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tù thỏa đáng nhằm đảm bảo trừng trị người phạm tội, giáo dục bị cáo thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới và giáo dục người hác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đ u tranh chống tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại hoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời hai của bị cáo tại phiên tòa cho th y bị cáo làm nghề lao động tự do hông có thu nhập ổn định, không có tài sản nào khác nên hông áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử l vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, vật chứng của vụ án đã thu giữ được xử l như sau:

Toàn bộ lượng ma túy Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì thư có thành phần là Heroine, là vật Nhà nước c m lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động No ia màu đen (đã qua sử dụng) có số Imei 1: 355754100815953; Imei 2: 355754101015959 và số tiền 2.600.000 đồng của bị cáo nhưng hông liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

Đối với 01 chiếc xe đạp điện (đã qua sử dụng) của chị Vũ Thị Thanh Giang, địa chỉ: Số 27/82/30 A, phường B, quận C, thành phố Hải Phòng. Khi cho bị cáo mượn xe, chị Giang không biết bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử l vật chứng số 04/QĐXLVC ngày 16-01-2020 trả lại chiếc xe trên cho chị Giang là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, hiện chưa xác định được lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử l sau là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật.

[12] Về án phí: Bị cáo thuộc đối tượng người cao tuổi nên căn cứ Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo DTN 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép ch t ma túy; thời hạn ch p hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 03-12-2019.

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hu : Toàn bộ lượng ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì thư có thành thành phần là Heroine có d u niêm phong số 591/2019/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động No ia màu đen (đã qua sử dụng) có số Imei 1: 355754100815953; Imei 2: 355754101015959 và số tiền 2.600.000 (hai triệu sáu trăm nghìn) đồng theo Biên bản giao nhận vật chứng và Biên lai thu tiền ngày 20-3-2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng.

Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền háng cáo trong thời hạn 15 ngày, ể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ