- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng A G phạm tội - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Giàng A G phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TAND HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:19/2020/HS-ST Ngày 04-6-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Tuyết Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Văn Cần
Ông Vàng A Kỷ
- Thư ký phiên toà: Ông Lương Văn Đoàn -Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Kiến Thắng - Kiểm sát viên
Ngày 04 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2020/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2020/QĐXXST-HS ngày 22/5/2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Giàng A G; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh năm 1989; Nơi sinh: Huyện Q, tỉnh S; Nơi cư trú: Bản N, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 5/12; Con ông Giàng A S, sinh năm 1965 và con bà Thào Thị S, sinh năm 1968; Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ thứ nhất: Sùng Thị D (đã chết); Vợ thứ hai: Tráng Thị S, sinh năm 1987; Con: Bị cáo có 06 con lớn nhất sinh năm 2005 con nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án; tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 16/01/2019, ngày 22/01/2020 bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phan Văn N – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lai Châu, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Khoảng 15 giờ ngày 16/01/2020, Giàng A G điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade màu sơn đen không gắn biển kiểm soát (chiếc xe này có biển kiểm soát 25T1-094.33 nhưng G tham gia giao thông bị tai nạn và chiếc biển kiểm soát này bị gãy rời khỏi xe nên G chưa kịp đi lắp lại) đi từ nhà tại bản Noong Thăng, xã Phúc Than, huyện Than Uyên lên bản Mít Nọi, xã Hố Mít, huyện Tân Uyên để đón con trai là Lù A H, sinh năm 2005. Khi đi đến đầu bản Noong Thăng, xã Phúc Than, G gặp và mua được của 01 người phụ nữ dân tộc Mông không rõ nhân thân lai lịch 01 gói Heroine bên ngoài gói bằng mảnh nilon màu xanh với giá 50.000 đồng. Sau khi mua Heroine xong, người phụ nữ kia đi đâu không rõ còn G cầm gói ma túy ở tay trái rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô theo hướng đường Quốc lộ 32 đi bản Mít Nọi, xã Hố Mít, huyện Tân Uyên. Đến hồi 16 giờ, ngày 16/01/2020, khi Giàng A G đi đến địa phận bản K2, xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên thì bị Công an xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên phát hiện bắt quả tang và thu giữ của Giàng A G 01 gói Heroine bên ngoài gói bằng mảnh nilon màu xanh có khối lượng là 0,13 gam. Ngoài ra còn thu giữ của G 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade màu sơn đen, không có biển kiểm soát.
Ngày 16/01/2020, Cơ quan CSĐT Công an huyện Tân Uyên đã tiến hành thành lập hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu vật giám định và niêm phong vật chứng. Kết quả: 01 gói chất bột khô, màu trắng đục, vón cục bên ngoài được gói bằng mảnh nilon màu xanh thu giữ của Giàng A G có khối lượng là 0,13 gam.
Tại kết luận giám định số 53/GĐ-KTTH ngày 19/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: “01 mẫu chất bột màu trắng gửi đến giám định là ma túy, loại: Heroine”
Bản cáo trạng số 20/CT - VKS - TU ngày 27/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên đã truy tố bị cáo Giàng A G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận điều tra và bản cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Giàng A G thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên.
Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án thấp nhất của khung hình phạt và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Uyên, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và của người bào chữa trong quá trình xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Hồi 16 giờ 00 phút ngày 16/01/2020 tại bản K2, xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu bị cáo Giàng A G đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,13 gam mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Bị cáo Giàng A G là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Ý thức được điều đó nhưng bị cáo cố ý tàng trữ Heroine để thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định hành vi của bị cáo Giàng A G đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán , vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy…, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm…
...
c) Heroine,...có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05 gam.
Vì vậy, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; từ nhỏ sống phụ thuộc gia đình tại bản Mường Giôn, Quỳnh Nhai, Sơn La. Năm 2015 bị cáo lấy vợ và làm ăn sinh sống tại bản N, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp nên hiểu biết pháp luật còn có phần hạn chế; gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo nên bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xét thấy cần thiết phải xử phạt tù bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội. Vì vậy, đề nghị của người bào chữa về việc cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt không được chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo làm ruộng, nguồn thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án:
01 phong bì thư làm bằng phong bì của Công an huyện Tân Uyên bên trong đựng 01 mảnh nilon màu xanh. Đây là vật chứng không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, BKS 25T1-094.33, màu sơn đen; số máy JA36E0250144, số khung RLHJA3613EY133850, loại xe BLADE, xe đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong thu giữ của bị cáo Giàng A G. Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xác định đây là tài sản chung của bị cáo và vợ bị cáo. Việc bị cáo dùng chiếc xe trên vào việc phạm tội vợ bị cáo không biết nên đã trả lại cho vợ bị cáo là chị Tráng Thị S là phù hợp với quy định của pháp luật.
Những vấn đề liên quan:
Về nguồn gốc số Heroine bị cáo Giàng A G khai mua của người phụ nữ dân tộc Mông không rõ nhân thân lai lịch tại bản N, xã P, huyện T. Quá trình điều tra không xác định được người phụ nữ này nên không có căn cứ để xử lý.
Việc bị cáo Giàng A G lấy xe mô tô nhãn hiệu HONDA, BKS 25T1-094.33, màu sơn đen; số máy JA36E0250144, số khung RLHJA3613EY133850, loại xe BLADE của gia đình dùng làm phương tiện để đi mua Heroine. Quá trình điều tra xác định các thành viên trong gia đình bị cáo Giàng A G đều không biết nên không đề cập xử lý là phù hợp.
Về án phí: Do bị cáo thuộc hộ nghèo theo giấy chứng nhận hộ nghèo, cận nghèo số 215.CN-HN-HCN ngày 01/01/2019 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu nên bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Giàng A G phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
[2]Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 14 (Mười bốn) tháng tù. Khấu trừ 06 (Sáu) ngày tạm giữ, còn lại bị cáo phải chấp hành 13 (Mười ba) tháng 24 (Hai mươi bốn) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành hình phạt.
[3] Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư làm bằng phong bì của Công an huyện Tân Uyên bên trong đựng 01 mảnh nilon màu xanh.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 10 giờ 15 phút ngày 02/6/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Tân Uyên).
[4] Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[5] Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân cấp trên. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Lai Châu;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- VKSND tỉnh Lai Châu;
- Sở tư pháp tỉnh Lai Châu;
- VKSND huyện Tân Uyên;
- Chi Cục THADS huyện Tân Uyên;
- Công an huyện Tân Uyên;
- Bị cáo;
- Người bào chữa;
- Lưu HSVA.
Dương Thị Tuyết Thanh THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện Tân Uyên; - Chi Cục THADS huyện Tân Uyên; - Công an huyện Tân Uyên; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Lưu HSVA. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Dương Thị Tuyết Thanh THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |