vanban.org

Bản án 19/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 25/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lưu Thị N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” .

Áp dụng: điểm b, kho n 1, Điều 260; điểm s, b kho n 1, kho n 2, Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lưu Thị N 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng, kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Thị N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” . - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 26…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lưu Thị N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” .
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 332 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HQ
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B n n số: 19 /2020/HS-ST
Ng y 25 - 9 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HQ, TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Kim.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Chí Cốt.

Bà Hoàng Thị Viễn.

- Thư ký phiên toà: B Phan Thị Thiết - Thư To n nh n d n huyện HQ, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HQ, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: B Ho ng Minh Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 25 th ng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa n nh n d n huyện HQ, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm vụ n hình sự thụ l số 17/2020/HSST ng y 31 th ng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ n ra xét xử số 17 /2020/QĐXX-HS ngày 10 th ng 9 năm 2020 đối với bị c o

Lưu Thị N (tên gọi h c: Không), sinh ng y 14 th ng 02 năm 1993 tại xã LC, huyện HA, tỉnh Cao Bằng. Nơi cư trú: tổ XL, thị trấn XH, huyện HQ, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn B, sinh năm 1964 và b Lưu Thị T, sinh năm 1961; chồng: Đỗ Văn C, sinh năm 1992, có 01con: Đỗ Xuân T, sinh năm 2016; tiền án: Không, tiền sự: Không; nhân thân: chưa bị kết án, xử lý hành chính lần nào. Hiện bị c o đang bị áp dụng biện ph p ngăn chặn Cấm đi hỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bế Đức T, sinh năm 1983.

Nơi cư trú: xóm CV, xã SH, huyện HQ, tỉnh Cao Bằng. Có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng:

+ Đ m Duy T, sinh năm 1987. Nơi cư trú: xóm HM, xã TH, huyện HQ, tỉnh Cao Bằng.

Vắng mặt tại phiên tòa.

+ Đinh Ngọc T, sinh năm 2007.

Nơi cư trú: xóm HM, xã TH, huyện HQ, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt tại phiên tòa (Có đơn xin vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của người làm chứng: Ông Đinh Văn C.

Nơi cư trú: xóm HM, xã TH, huyện HQ, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt tại phiên tòa (Có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ n được tóm tắt như sau:

Kho ng 15 giờ, ngày 26/3/2020 tại đoạn đường Km 0 + 300 đường Hồ Chí Minh kéo dài thuộc xóm HM, xã TH, huyện HQ, Lưu Thị N, sinh năm 1993, trú tại tổ XL, thị trấn XH, huyện HQ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 11B1-04837 đi theo hướng Cửa khẩu SG – thị trấn XH đã va chạm với 01 xe mô tô biển kiểm soát 11F3-3117 do Bế Đức T điều khiển, sau tai nạn, c hai được đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện HQ, tỉnh Cao Bằng.

Tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện có liên quan, kết qu như sau:

- Hiện trường đã bị xáo trộn do đưa người bị nạn đi cấp cứu v c c phương tiện tiếp tục lưu thông. Đoạn đường x y ra tai nạn l đoạn đường thẳng, khô ráo, mặt đường r i nhựa áp phan bê tông, được chia th nh hai l n đường bằng vạch sơn đứt quãng. Lấy cột điện ký hiệu ĐC/5C l m mốc ở bên tr i đường theo hướng Cửa khẩu SH – thị trấn XH, lấy mép đường bên trái làm chuẩn theo hướng SH – thị trấn XH.

Lòng đường rộng 6,25m, nối tiếp lòng đường là lề đường và nắp cống bê tông, bằng phẳng có ích thước: bên ph i 01 m, bên trái 1,1 m.

(1) Vết dầu vương vãi hông rõ hình trên mặt đường, có ích thước (1,7 x x1,6) m, t m c ch mép đường tr i l 3,05 m, c ch mép đường ph i là 3,2 m.

(2) Xe mô tô biển kiểm soát 11F3 – 3117, xe đổ nghiêng bên tr i. Đầu xe hướng về bên tr i đường chếch chéo về xã SH. T m (1) đến trục trước bên ph i là 0,67, trục trước bên ph i đến mép đường là trái là 3,6m, trục trước bên ph i đến mép đường ph i là 2,65m, trục sau bên ph i đến mép đường trái là 4,45 m, trục sau bên ph i đến mép đường ph i là 1,77m.

(3) Vết máu loang không rõ hình nằm ở phần đường bên ph i, có kích thước trên diện 1,93 x 0,9m. T m đến trục sau (2) là 1,4m.

(4) Vết trượt m u đen éo d i liên tục, đoạn cuối vết có vết c y xước trên mặt đường theo hướng SH – thị trấn XH, ích thước dài 4,25 x 0,04m, sâu 0,1cm. Từ t m (1) đến đầu vết là 0,73m, từ đầu vết đến mép đường trái là 2,6m, từ cuối vết đến mép đường trái là 1,47m.

(5) Vết c y xước chạy song song vết (4) nằm trên mặt đường, ích thước dài 2,05 x 0,01m, sâu nhất 0,2cm. Đầu vết (4) đến đầu vết l 2,77m, đầu vết đến mép đường trái là 2,22m, cuối vết đến mép đường trái là 1,51m.

(6) Vết trượt m u đen nằm trên mặt đường, ích thước 2,05m x 2,5cm, đầu vết (5) đến đầu vết l 1,3m, đầu vết đến mép đường tr i l 2,12m, đuôi vết đến mép tr i đường là 2,23m.

(7) Xe mô tô Biển kiểm soát 11B1- 04837 xe đổ nghiêng về bên ph i, đầu xe quay hướng ra bên tr i đường, đuôi vết (5) đến trục trước là 1,15m, trục trước đến mép đường trái là 1,17m, trục sau đến mép đường trái là 2,4m, trục sau đến đuôi vết (5) là 1,3m.

(8) Tổ hợp vết m u vương vãi trên mặt đường trên diện ích thước (1,15 x 0,8)m, từ t m đến mép tr i đường là 1,22m, từ t m đến trục trước vị trí (7) là 1,18m.

Từ mốc đến tâm vết (1) là 6,1m, từ mốc đến trục trước bánh xe mô tô BKS 11F3 – 3117 là 6,75m, từ mốc đến trục trước bánh xe mô tô BKS 11B1- 04837 là 7,8m.

- Về khám nghiệm phương tiện:

Xe mô tô BKS 11F3- 3117, phần đầu xe gồm đèn pha, đèn xi nhan, cụm công tơ mét va mặt nạ đầu xe không còn, chắn bùn đằng trước không còn. Phía trước bên tr i gi đỡ giỏ xe có vết trượt xước dính mạt đ m u trắng, ích thước (2 x 0,5) cm. Ống gi m sóc bên ph i không còn, ống gi m sóc bên trái bị gãy. V nh b nh xe phía trước biến dạng lõm v o trong, d y cung d i 18cm, đỉnh cung dài 5,5cm, mặt trước đầu máy có nhiều vết m i xước trên diện (2 x 0,5) cm, cánh yếm bên ph i nứt vỡ, gãy rời, ốp nhựa thân xe bên ph i không còn, mặt ngoài phần kim loại chân dẫm đằng trước bên trái có vết trượt xước dính mạt đ m u trắng, ích thước (2 x 0,5) cm, mặt ngoài phần kim loại chân dẫm đằng sau bên trái có vết trượt xước dính mạt đ m u trắng, ích thước (4 x 01)cm. mặt ngoài bên trái thanh b o vệ yên xe có nhiều vết trượt xước đứt đoạn dính mạt đ m u trắng, trên diện (6 x 01)cm, châm dẫm phanh bên ph i bị cong gập từ trước về sau.

Xe mô tô BKS 11B1 – 04837, gương bên ph i hông có, gương bên tr i bị vỡ cong gập từ sau ra trước, ốp trên cụm đèn pha có dính nhiều vết m u n u đỏ (nghi là máu) trên diện (35 x 20) cm, phần nhựa ốp trên cụm đèn pha bị bật ra khỏi lẫy, đèn tín hiệu xi nhan bên ph i bị vỡ, phần nhựa ốp đèn xi nhan bên ph i có nhiều vết xước trên diện (12 x 6)cm, cánh yếm bên ph i bị gãy vỡ, mặt nạ đằng trước bị gãy vỡ dính nhiều vết m u n u đỏ (nghi là máu) trên diện (25 x 15) cm, cánh yếm bên trái bị bật ra khỏi lẫy, chắn bùn đằng trước bị gãy vỡ, ích thước (25x14) cm, mặt ngo i đầu chắn bùn đằng trước có nhiều vết xước nham nhở trên diện (14 x 10) cm, b nh xe đằng trước bị biến dạng bật nan hoa, phần cao su châm dẫm đằng sau bên ph i bị mài rách, ích thước (4 x 1,5) cm, mặt ngoài phần kim loại có vết m i xước dính mạt đ m u trắng, ích thước (3 x 0,5) cm, mặt dưới chân phanh có vết trượt xước dính mạt đ m u trắng, kích thước (7 x 0,5) cm, mặt dưới ốm b o vệ ống x phía trước có vết trượt xước dính mạt đ m u trắng, ích thước (4 x 0,1) cm.

Tại cơ quan điều tra bị cáo Lưu Thị N khai nhận:

Kho ng 14 giờ, ngày 26/3/2020, bị c o đi xe mô tô từ cửa khẩu SG đi xuống thị trấn XH, khi đi đến đoạn đường thuộc xóm HM, xã TH, bị cáo thấy phía trước không bị che khuất tầm nhìn, không có vật c n, không ph i tránh vượt xe, bị cáo điều khiển xe đi lấn sang phần đường d nh cho xe đi ngược chiều, do đi với tốc độ cao đã hông l m chủ được tay l i nên đã đ m trực diện vào xe ngược chiều do anh Bế Đức T điều khiển. Sau tai nạn, c hai đều bị thương tích, được đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện HQ.

Ng y 27 th ng 3 năm 2020, Cơ quan c nh s t điều tra Công an huyện HQ đã tiến hành lập biên b n trích xuất camera nhà anh Nông Văn T, trú tại xóm HM, xã TH, huyện HQ, sao lưu lại một đoạn video liên quan đến vụ tai nạn giao thông vào USB, chụp nh màn hình, từng đoạn trong video.

B n Kết luận gi m định pháp y về thương tích số 052/20/TgT, ngày 29/5/2020 của Trung tâm pháp y Sở y tế Cao Bằng kết luận:

“1. Dấu hiệu chính qua gi m định:

- Vỡ phức tạp, khuyết xương hộp sọ vùng chán, vỡ ổ mắt hai bên: 30%.

- Tổn thương não thùy tr n hai bên hông có di chứng chức năng hệ thần kinh: 30%.

- Vỡ phức hợp mũi - sàng – bướm và hàm mặt: 36%.

- Gẫy phức tạp hai xương cẳng chân ph i, sau mổ kết hợp xương bằng định nội tủy, xương thẳng trục, chi ngắn 02 cm so với chân trái: 30%.

- Vết sẹo vùng ch n, ích thước lớn: 09%.

- 03 vết sẹo chân ph i, ích thước lớn: 09%.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích g y nên hiện tại là 82% (Tám mươi hai phần trăm)”.

Sự việc x y ra có anh Đ m Duy T và cháu Đinh Ngọc T chứng kiến. Nguyên nhân dẫn đến tai nạn l do bị c o Lưu Thị N điều hiển xe mô tô lấn sang phần đường d nh cho xe đi ngược chiều, vi phạm ho n 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ.

Đối với 01 chiếc xe mô tô BKS 11B1 – 04837 của bị c o v 01 chiếc xe mô tô BKS 11F3-3117 của bị hại, bị c o v bị hại đều có đơn xin lại xe, được Viện iểm s t nh n d n huyện HQ đã tr lại xe.

Về tr ch nhiệm d n sự: Lưu Thị N đã bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 110.000.000 đồng. Bị hại Bế Đức T có đơn xin miễn tr ch nhiệm hình sự cho bị c o N.

Với c c tình tiết v chứng cứ nên trên, b n C o trạng số 17/CT-VKSHQ ng y 31/8/2020 của Viện iểm s t nh n d n huyện HQ đã truy tố Lưu Thị N về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại ho n 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị c o Lưu Thị N khai nhận to n bộ h nh vi phạm tội của mình như C o trạng của Viện iểm s t nhân dân huyện HQ truy tố, bị c o thừa nhận hi hông tham gia giao thông hông đội mũ b o hiểm, điều hiển xe với tốc độ quá nhanh, đi lấn sang phần đường của xe ngược chiều, không ịp xử l hi gặp xe đi ngược chiều dẫn đến va chạm; Bị hại Bế Văn T x c định, b n th n đi đúng phần đường của mình, bị c o N đi qu nhanh, lấn sang phần đường của bị hại, g y tai nạn cho bị hại với tỷ lệ tổn thương cơ thể l 82%. Bị c o N đã bồi thường to n bộ thiệt hại thương tích cho gia đình xong trước phiên tòa, bị hại hông có yêu cầu gì thêm. Tại phiên tòa bị hại Thọ đề nghị xin gi m nhẹ tr ch nhiệm hình sự cho bị c o.

Người l m chứng Đ m Duy T và Đinh Ngọc T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời hai x c định bị c o N đi xe mô tô với tốc độ cao, đi lấn sang phần đường d nh cho xe ngược chiều l nguyên nh n g y tai nạn cho xe đi ngược chiều.

Đại diện Viện iểm s t nh n d n huyện HQ tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị c o Lưu Thị N. Sau hi ph n tích c c chứng cứ x c định tội danh, c c tình tiết tăng nặng, gi m nhẹ đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b ho n 1 Điều 260; c c điểm b, s ho n 1, ho n 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, Tuyên bố bị cáo Lưu Thị N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, xử phạt bị c o N từ 12 tháng đến 18 th ng tù nhưng cho hưởng n treo, thời gian thử th ch từ 24 đến 36 th ng ể từ ngày tuyên án. Về hình phạt bổ sung: Không p dụng. Về tr ch nhiệm d n sự, bị c o v bị hại đã tự thỏa thuận bồi thường xong nên hông đề nghị xem xét. Về n phí, đề nghị p dụng Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo ph i chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị c o, bị hại hông có tranh luận gì với đại diện Viện iểm s t.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ n, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ n đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện HQ, Điều tra viên, Kiểm s t viên trong qu trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, c c h nh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Sự vắng mặt của người làm chứng không nh hưởng đến phiên tòa vì đã có lời khai trong hồ sơ vụ án nên phiên tòa vẫn tiến hành xét xử theo Điều 293 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Lời khai nhận của bị cáo Lưu Thị N tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên b n khám nghiệm hiện trường, Biên b n khám nghiệm phương tiện, lời khai của những người làm chứng, B n kết luận gi m định pháp y về thương tích và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Kho ng 15 giờ ngày 26/3/2020 bị cáo Lưu Thị N một mình điều khiển xe mô tô BKS 11B1 – 04837 đi từ cửa khẩu SG về thị trấn XH, hi đi đến đoạn đường thuộc xóm HM, xã TH, huyện HQ đã gây tai nạn cho anh Bế Đức T đang điều khiển xe mô tô BKS 11F3-3117 đi ngược chiều. Hậu qu , bị hại Bế Đức T bị tổn thương cơ thể là 82% (Tám mươi hai phần trăm). Nguyên nhân gây tai nạn là do bị cáo Lưu Thị N tham gia giao thông hông đội mũ b o hiểm, khi gặp xe đi ngược chiều không gi m tốc độ, hông điều khiển xe đi về bên ph i theo chiều chạy xe của mình m đi lấn sang phần đường của xe ngược chiều, vi phạm quy định tại kho n 2 Điều 30, kho n 1 Điều 17, kho n 1 Điều 9 của Luật giao thông đường bộ. Hành vi của bị cáo Lưu Thị N đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với tình tiết định khung “G y thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên” được quy định tại điểm b kho n 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện HQ truy tố bị cáo Lưu Thị N l đúng người, đúng tội.

Bị c o Lưu Thị N l người có đủ năng lực tr ch nhiệm hình sự, được cấp Giấy phép l i xe hợp lệ nhưng do cẩu th hi điều hiển xe dẫn đến tai nạn. H nh vi của bị c o l nguy hiểm cho xã hội, x m phạm trật tự an to n giao thông đường bộ đã g y thiệt hại về sức hỏe cho bị hại Bế Đức T với tỷ lệ tổn thương cơ thể rất cao, 82%. Do đó, cần thiết ph i phạt bị c o thật nghiêm để gi o dục bị c o v phòng ngừa chung.

C c tình tiết tăng nặng: Bị c o hông có tình tiết tăng nặng tr ch nhiệm hình sự.

C c tình tiết gi m nhẹ: Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra bị c o thể hiện th i độ th nh hẩn hai b o, ăn năn hối c i về h nh vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết gi m nhẹ được quy định tại điểm s ho n 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Bị c o đã bồi thường to n bộ c c thiệt hại cho bị hại nên được hưởng tình tiết gi m nhẹ tr ch nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b ho n 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Ngo i ra, tại phiên tòa, bị hại còn có đề nghị xem xét gi m nhẹ tr ch nhiệm hình sự cho bị c o, vì vậy, Hội đồng xét xử cho bị c o được hưởng thêm 01 tình tiết gi m nhẹ theo quy định tại ho n 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về nh n th n: Bị c o có nh n th n tốt, chưa có tiền n tiền sự, lần đầu phạm tội.

Xét thấy, bị c o có nh n th n tốt, phạm tội lần đầu; Sau hi phạm tội bị c o đã đến thăm hỏi, chia sẻ động viên với gia đình bị hại, bồi thường to n bộ thiệt hại cho bị hại, được bị hại đề nghị xem xét gi m nhẹ tr ch nhiệm hình sự; Do bị c o có nhiều tình tiết gi m nhẹ, có nơi cư trú rõ r ng nên không cần thiết ph i c ch ly bị c o hỏi đời sống xã hội m chỉ cần giao bị c o cho chính quyền địa phương nơi cư trú gi m s t gi o dục cũng đủ để bị c o trở th nh công d n tốt, phù hợp với quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ng y 15/5/2018 của Hội đồng thẩm ph n Tòa n nh n d n tối cao.

Về tr ch nhiệm d n sự: Bị c o đã bồi thường cho bị hại số tiền 110.000.000 đồng, bị hại đã nhận đủ tiền, bị hại hông có yêu cầu gì h c nên Hội đồng xét xử hông xem xét.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại ho n 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị cấm đ m nhiệm chức vụ, cấm h nh nghề hoặc l m công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Xét thấy, bị c o do cẩu th , vô phạm tội nên không p dụng hình phạt bổ sung đối với bị c o.

Về vật chứng: Đối với 01 xe mô tô BKS 11B1 – 04837 của bị c o Lưu Thị N và 01 xe mô tô BKS 11F3-3117 của bị hại Bế Đức T, trong giai đoạn truy tố, bị c o v bị hại có đơn xin lại xe mô tô nên Viện iểm s t nh n d n huyện HQ đã tr lại xe cho bị c o v bị hại, phù hợp với quy định tại điểm b ho n 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử hông xem xét.

Ý kiến đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, tình tiết tăng nặng, các tình tiết gi m nhẹ, mức hình phạt đối với bị c o đều phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị c o l người bị kết án, ph i chịu án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo b n n theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lưu Thị N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” .

2. Áp dụng: điểm b, kho n 1, Điều 260; điểm s, b kho n 1, kho n 2, Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lưu Thị N 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng, kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Lưu Thị N cho Ủy ban nhân dân thị trấn XH, huyện HQ, tỉnh Cao Bằng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị c o được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo c c quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử th ch, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo ph i chấp hành hình phạt tù của b n n treo đã được hưởng.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

3. Về án phí: Áp dụng kho n 2 Điều 135; kho n 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; kho n 1 Điều 6; điểm a kho n 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lưu Thị N ph i chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp Ng n s ch Nh nước.

4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo b n án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ