- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Vũ K ""Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có"" - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (điều 32…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Vũ K phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
- Căn cứ chính? Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LONG AN Bản án số: 19/2020/HS-ST Ngày: 25 - 02 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Thảnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Ghên.
Bà Nguyễn Thị Rạt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Mẫn - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2020/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2020/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:
Phan Vũ K, sinh năm 1989, tại Long An; Nơi cư trú: Ấp A, xã B, huyện H, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Phan Tấn T và bà Nguyễn Thị P; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án; Tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 08/9/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 27/4/2016, đã xóa án tích. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/11/2019 đến nay. (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Nguyễn Đức T, sinh năm 1996. (vắng mặt)
Địa chỉ: Số 143 N, khu phố Đ, phường D, thị xã D, tỉnh Bình Dương.
2/ Nguyễn Thị Nhật L, sinh năm 1998. (vắng mặt)
3/ Nguyễn Sỹ H, sinh năm 1962. (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn 6, xã E, huyện E, tỉnh Đăk Lăk.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: Đào Tấn T (vắng mặt), Nguyễn Ngân G (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 27/11/2019, bị cáo K đang uống cà phê tại quán cà phê không biển hiệu ở khu vực ngã tư G thuộc phường L, Quận M, thành phố Hồ Chí Minh thì một người phụ nữ tên G (không rõ nhân thân, lai lịch) gọi vào máy điện thoại di động hiệu Masstel, màu đen, số sim 0973415418 của bị cáo K và kêu bị cáo K vận chuyển xe mô tô do người khác phạm tội mà có từ ngã tư G, Quận M, thành phố Hồ Chí Minh về huyện H, tỉnh Long An với tiền công là 500.000 đồng. Bị cáo K đồng ý thực hiện. Khoảng 09 giờ ngày 28/11/2019, có một người thanh niên không rõ họ tên, điều khiển một xe mô tô hiệu Honda, loại Wave RSX, màu trắng đen, biển số 47P1-016.40, ổ khóa công tắc điện của xe bị hư do cạy phát, xe không có giấy đăng ký xe; bị cáo K biết đây là xe do phạm tội mà có nhưng vì muốn có tiền tiêu xài, bị cáo vẫn đồng ý vận chuyển. Bị cáo K nhận xe, nhận 500.000 đồng tiền công vận chuyển và điều khiển xe về huyện H, tỉnh Long An để tiêu thụ. Khi đi đến đoạn đường tỉnh lộ 830 thuộc khu vực 3, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An thì bị Công an huyện Đức Hòa phát hiện bắt giữ quả tang bị cáo K cùng vật chứng.
Quá trình làm việc tại Cơ quan điều tra, bị cáo K khai nhận vào ngày 26/11/2019 và 27/11/2019, bị cáo K đã tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trót lọt 02 lần cho người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) từ ngã tư G, thành phố Hồ Chí Minh về huyện H, tỉnh Long An; thu lợi bất chính số tiền 1.000.000 đồng.
Tang vật tạm giữ: Một xe mô tô hiệu Honda, loại Wave RSX, màu trắng đen, biển số 47P1-016.40, số khung RLHJC4237BY298146, số máy JC43E6232984; một chìa khóa xe mô tô bị mài nhọn phần đầu; một điện thoại di động hiệu Masstel, màu đen, số sim 0973415418.
Qua điều tra xác minh được biết xe mô tô hiệu Honda, loại Wave RSX, màu trắng đen, biển số 47P1-016.40, số khung RLHJC4237BY298146, số máy JC43E6232984 bị cáo K điều khiển bị bắt quả tang là do ông Nguyễn Sỹ H đứng Giấy đăng ký xe mô tô, xe gắn máy; ông H giao xe cho con G là Nguyễn Thị Nhật L quản lý, sử dụng; Nguyễn Thị Nhật L cho anh Nguyễn Đức T, sinh năm: 1996, hộ khẩu thường trú: số 143 N, khu phố Đ, phường D, thị xã D, tỉnh Bình Dương mượn sử dụng thì bị mất vào ngày 28/11/2019 tại phòng trọ của anh T, địa chỉ: số 100 đường D1, khu phố T, phường D, thị xã D, tỉnh Bình Dương.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 121/KL.ĐGTS ngày 05/12/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An kết luận: xe mô tô hiệu Honda, loại Wave RSX, màu trắng đen, biển số 47P1-016.40, số khung RLHJC4237BY298146, số máy JC43E6232984 mà bị cáo K vận chuyển đi tiêu thụ bị bắt quả tang có giá trị thành tiền là 9.395.000đồng.
Ngày 05/12/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Hòa đã trao trả tài sản là một xe mô tô hiệu Honda, loại Wave RSX, màu trắng đen, biển số 47P1-016.40, số khung RLHJC4237BY298146, số máy JC43E6232984 cho anh Nguyễn Đức T.
Tại bản cáo trạng số 17/CT-VKSĐH ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An truy tố bị cáo Phan Vũ K về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại phiên toà, Kiểm sát viên sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo Phan Vũ K gây ra; đồng thời căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Tuyên bố bị cáo Phan Vũ K phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; xử phạt bị cáo Phan Vũ K mức hình phạt từ 09 tháng đến 01 năm tù.
Đề nghị áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Về tang vật chứng:
+ Đối với một xe mô tô hiệu Honda, loại Wave RSX, màu trắng đen, biển số 47P1-016.40, số khung RLHJC4237BY298146, số máy JC43E6232984, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Hòa đã trả lại cho anh Nguyễn Đức T nên đề nghị không đề cập, xem xét.
+ Đối với một điện thoại di động hiệu Masstel, màu đen: là tài sản của bị cáo Phan Vũ K dùng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
+ Đối với số sim 0973415418; một chìa khóa xe mô tô bị mài nhọn phần đầu: bị cáo dùng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Đức T đã nhận lại tài sản là một xe mô tô hiệu Honda, loại Wave RSX, màu trắng đen, biển số 47P1-016.40, số khung RLHJC4237BY298146, số máy JC43E6232984 và không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự; ông H không có yêu cầu gì, chị L đã nhận lại xe từ anh T nên không có yêu cầu gì trong vụ án nên đề nghị không xem xét.
Ngoài ra trong vụ án này, bị cáo khai nhận thu lợi bất chính số tiền 1.000.000 đồng và số tiền công đã nhận lần bắt quả tang là 500.000 đồng nên đề nghị buộc bị cáo nộp lại tổng số tiền thu lợi bất chính là 1.500.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.
Đối với người có tên G và người thanh niên có hành vi thuê và giao xe cho bị cáo K đi tiêu thụ do không xác định được nhân thân lai lịch người này và chỉ có lời khai duy nhất của bị cáo K nên Cơ quan điều tra tiếp tục truy xét làm rõ xử lý sau.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Đức T trình bày trong quá trình điều tra: Anh có mượn xe mô tô hiệu Honda, loại Wave RSX, màu trắng đen, biển số 47P1-016.40, số khung RLHJC4237BY298146, số máy JC43E6232984 của chị Nguyễn Thị Nhật L (do ông Nguyễn Sỹ H đứng Giấy đăng ký xe mô tô, xe gắn máy) để sử dụng. Ngày 28/11/2019 tại phòng trọ của anh địa chỉ: số 100 đường D1, khu phố T, phường D, thị xã D, tỉnh Bình Dương, anh bị mất một xe mô tô hiệu Honda, loại Wave RSX, màu trắng đen, biển số 47P1-016.40, số khung RLHJC4237BY298146, số máy JC43E6232984. Nay Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh tài sản bị mất nên anh không có yêu cầu gì trong vụ án.
Tại phiên tòa bị cáo Phan Vũ K hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đức Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng nhưng những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
. Lời khai nhận tội của bị cáo Phan Vũ K trước Tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang vào lúc 11 giờ 00 phút ngày 28 tháng 11 năm 2019, biên bản về việc định giá tài sản số 121 ngày 05/12/2019 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp với nội dung bản cáo trạng.
Thấy rằng, dù biết rõ nguồn gốc tài sản là do người khác phạm tội mà có nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo Phan Vũ K đã nhận vận chuyển tài sản là 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Wave RSX, màu trắng đen, biển số 47P1-016.40, số khung RLHJC4237BY298146, số máy JC43E6232984 (xe có giá trị thành tiền là 9.395.000đồng) cho một người tên G (không rõ nhân thân, lai lịch) từ ngã tư G, Quận M, thành phố Hồ Chí Minh về huyện H, tỉnh Long An với tiền công là 500.000 đồng; bị cáo đã nhận tiền công. Trên đường vận chuyển đến đoạn đường Tỉnh lộ 830 thuộc khu vực 3, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An thì bị lực lượng Công an bắt quả tang cùng tang vật.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Phan Vũ K phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Phan Vũ K với tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
. Hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo Phan Vũ K gây ra là nguy hiểm. Bị cáo biết rõ đây là tài sản do phạm tội mà có, nhưng bị cáo vẫn nhận vận chuyển để tiêu thụ được tài sản. Hành vi này đã xâm phạm đến khách thể là trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến công tác bảo vệ pháp luật và phòng chống tội phạm của Nhà nước; là tiếp tay, thúc đẩy cho hoạt động tội phạm. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của bị cáo là ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng nhưng bị cáo vẫn bất chấp thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp; do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
. Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) nên khi áp dụng hình phạt cho bị cáo có xem xét giảm nhẹ một phần. Tuy nhiên cũng cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
Từ phân tích [3] và [4], xét theo lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình phạt tù có thời hạn và mức hình phạt đối với bị cáo Phan Vũ K là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
. Về tang vật chứng:
+ Đối với một xe mô tô hiệu Honda, loại Wave RSX, màu trắng đen, biển số 47P1-016.40, số khung RLHJC4237BY298146, số máy JC43E6232984, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Hòa đã trả lại cho anh Nguyễn Đức T nên không đề cập, xem xét.
+ Đối với một điện thoại di động hiệu Masstel, màu đen: là tài sản của bị cáo Phan Vũ K dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
+ Đối với số sim 0973415418; một chìa khóa xe mô tô bị mài nhọn phần đầu: bị cáo dùng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
. Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Đức T đã nhận lại tài sản là một xe mô tô hiệu Honda, loại Wave RSX, màu trắng đen, biển số 47P1-016.40, số khung RLHJC4237BY298146, số máy JC43E6232984; không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự; ông H không có yêu cầu gì, chị L đã nhận lại xe từ anh T nên không có yêu cầu gì trong vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ngoài ra trong vụ án này, bị cáo khai nhận thu lợi bất chính số tiền 1.000.000 đồng và số tiền công đã nhận lần bắt quả tang là 500.000 đồng nên buộc bị cáo nộp lại tổng số tiền thu lợi bất chính là 1.500.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.
. Đối với người có tên G và người thanh niên có hành vi thuê và giao xe cho bị cáo K đi tiêu thụ do không xác định được nhân thân lai lịch người này và chỉ có lời khai duy nhất của bị cáo K, Cơ quan điều tra tiếp tục truy xét làm rõ xử lý sau nên không đề cập, xem xét.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và L phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Phan Vũ K phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Xử phạt bị cáo Phan Vũ K 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/11/2019.
Áp dụng khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tiếp tục tạm giam bị cáo Phan Vũ K 45 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 25/02/2020) để đảm bảo cho việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án
- Về tang vật chứng: Căn cứ vào Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
+ Tịch thu tiêu hủy: sim số 0973415418; một chìa khóa xe mô tô bị mài nhọn phần đầu.
+ Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 (một) một điện thoại di động hiệu Masstel, màu đen.
Tang vật trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 48 – 03/02/2020 ngày 03 tháng 02 năm 2020.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Phan Vũ K nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 1.500.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và L phí Toà án buộc bị cáo Phan Vũ K nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung Ngân sách Nhà nước.
Án này là sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Long An; - VKSND huyện Đức Hòa; - Công an huyện Đức Hòa; - Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Trần Thị Kim Thảnh |