vanban.org

Bản án 19/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 27/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Dương Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Dương Văn C 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02 - 11 - 2019. Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn C - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK R’LẤP
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2020/HS-ST
Ngày: 27 - 4 - 2020.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R’LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hà

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thùy và ông Nguyễn Như Tạ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hoà, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Giáp - Kiểm Sát viên.

Ngày 27 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2020/TLST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2020/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2020/HSST-QĐ ngày 19 tháng 3 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2020/HSST-QĐ ngày 08 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Dƣơng Văn C, sinh ngày 13 tháng 7 năm 1990 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn A, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Dương Văn L, sinh năm 1966 và bà Mã Thị T, sinh năm 1969; vợ là Đặng Thị T, sinh năm 1988 và 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2015.

Tiền sự: Quyết định số 04/2018/QĐ-TA ngày 09-02-2018 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Dương Văn C vào cơ sở cai nghiện ma túy số 11, tại Thôn 2, xã Đắk R’Tih, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông, thời gian 12 tháng. Ngày 23-02-2019 Dương Văn C chấp hành xong nhưng chưa được xóa tiền sự. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02-11-2019 – Có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1990

Địa chỉ: Thôn B, xã K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

Người làm chứng:

- Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Thôn C, xã W, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

- Anh Nguyễn Quốc T, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dương Văn C là người nghiện ma túy đồng thời không có nghề nghiệp, để có tiền sử dụng ma túy C đã nảy sinh ý định mua ma túy về bán lại cho đối tượng nghiện khác kiếm lời.

Ngày 31-10-2019 C đến Thôn 3, xã Nhân Cơ, huyện Đắk R’lấp gặp và mua của một người đàn ông (không xác định được nhân thân, lai lịch) 03 gói ma túy với giá 600.000 đồng, C cất giấu trong người. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 01-11-2019, Nguyễn Văn B gọi điện thoại hỏi mua 03 gói ma túy thì C đồng ý và thỏa thuận bán với giá 900.000 đồng. C và B thống nhất giao ma túy tại phòng số 102 nhà nghỉ K thuộc Thôn C, xã W, huyện Đắk R’lấp. Khoảng 21 giờ, C lấy 03 gói ma túy cất giấu vào trong túi quần đang mặc rồi nhờ Nguyễn Quốc T (là bạn của Chung) chở đến nhà nghỉ K, C nói với T chở đi gặp bạn. Khi C được T chở đến nhà nghỉ K thì cả hai đi vào phòng số 102 gặp B. T đến góc phòng lấy điện thoại ra chơi game, còn C đưa cho B 01 gói ma túy để kiểm tra, 02 gói còn lại C để trong tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, rồi đặt trên giường của nhà nghỉ. Lúc này B có điện thoại của Thị H rủ đi chơi, nên B bỏ gói ma túy đang cầm xuống đất rồi đi ra ngoài gặp H. Đến 22 giờ cùng ngày, B chở H quay lại nhà nghỉ 38 để mua ma túy của C thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R’lấp phát hiện bắt quả tang, lúc này C dùng tay hất tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng đựng 02 gói ma túy, làm 01 gói văng ra nệm của giường. Tang vật thu giữ trong phòng 102 gồm: 03 gói nilon trong suốt, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng. Trong đó 01 gói thu giữ trên nền gạch, được ký hiệu là M01; 01 gói được đựng trong tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, thu giữ trên nệm giường, được ký hiệu là M02; 01 gói thu giữ trên nệm giường, được ký hiệu là M03.

Tại Kết luận giám định số 80/KLMT-PC09 ngày 07-11-2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong gói nilon, ký hiệu “M01” được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,0416 gam, là Methamphetamine. Tinh thể màu trắng đựng trong bì thư, ký hiệu “M02” được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,2378 gam, là Methamphetamine. Tinh thể màu trắng đựng trong bì thư, ký hiệu “M03” được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,2116 gam, là Methamphetamine. Tổng khối lượng: 0,491 gam ma túy là Methamphetamine.

Cáo trạng số 11/CT-VKS ngày 18-02-2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp quyết định truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Đăk R’Lấp để xét xử Dương Văn C về tội:“Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Dương Văn C khai nhận như khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là hoàn toàn đúng với hành vi bị cáo thực hiện.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung cáo trạng truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Dương Văn C từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy 0,3047 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định; Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 3310, màu xanh trắng là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đăk R’Lấp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk R’Lấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai, Hội đồng xét xử đủ căn cứ xác định: Vào lúc 22 giờ ngày 01-11-2019, tại phòng số 102 nhà nghỉ K ở Thôn C, xã W, huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông, Dương Văn C có hành vi bán trái phép 0,491 gam chất ma túy là Methamphetamine cho Nguyễn Văn B với số tiền 900.000 đồng, chưa thực hiện xong giao dịch mua bán thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R’Lấp bắt quả tang cùng tang vật. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được bán chất ma túy là trực tiếp xâm phạm quyền kiểm soát và quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an, gây bất bình cho người dân trong khu vực nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, cần chấp nhận.

Đối với đối người đàn ông bán trái phép ma túy cho Dương Văn C. Quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ xử lý.

. Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

. Về quyết định hình phạt: Xét thấy tình hình tội phạm về ma túy diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển lành mạnh của con người, đồng thời là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội khác. Bên cạnh đó bị cáo Dương Văn C đã được đưa đi cai nghiện bắt buộc nhưng vẫn tái nghiện nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc để đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo có ý thức tu dưỡng, rèn luyện trở thành người công dân có ích cũng như phòng ngừa chung trong xã hội. Cũng từ những lý do trên, Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt cao hơn đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền.

. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:

Đối với 0,3047 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định không sử dụng được, cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 3310, màu xanh trắng là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước theo điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen Nguyễn Văn B sử dụng liên lạc với bị cáo C để mua ma túy, quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu của anh Nguyễn Ngọc H, anh Ngọc H cho B mượn nhưng không biết B sử dụng vào mục đích bất hợp pháp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đăk R’Lấp trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

. Về án phí: Bị cáo Dương Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,

Tuyên bố bị cáo Dương Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Dương Văn C 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02 - 11 - 2019.

2. Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự,

Tịch thu tiêu hủy 0,3047 gam chất ma túy là Methamphetamine hoàn lại sau giám định.

Tịch thu vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 3310, màu xanh trắng của Dương Văn C.

(Có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 19-02-2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đăk R’Lấp và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đăk R’Lấp).

Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đăk R’Lấp trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen cho anh Nguyễn Ngọc H.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Dương Văn C phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ