vanban.org

Bản án 19/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cư M'Gar, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 23/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Tuyên bố: Cao Thị H phạm tội “Đánh bạc”

Xử phạt bị cáo: Cao Thị H 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Cao Thị H cho Ủy ban nhân dân xã Q , huyện C, tỉnh Đắk Lắk nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục; gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Thị H ghi số đề - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố: Cao Thị H phạm tội “Đánh bạc”
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CƯM’GAR

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐĂKLĂK
Bản án số: 19 /2020/HS - ST
Ngày: 23 – 4 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM’GAR, TỈNH ĐĂKLĂK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền Diệu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Mạnh

2. Bà Cao Thị Hồng Châu

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện CưM’gar.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Ngọc - Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 4 năm 2020 tại phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện CưM’gar, tỉnh ĐăkLăk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2020/TLST - HS ngày 16 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2020/QĐXXST - HS ngày 25 tháng 3 năm 2020 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Cao Thị H ; Sinh năm 1973 tại tỉnh Thanh Hóa;

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước khi phạm tội: 59 H, xã Q , huyện C, tỉnh Đắk Lắk

Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Tiền án, tiền sự: Không; Con ông Cao Tiến L (chết) và con bà Lê Thị K, sinh năm 1940

Bị cáo có chồng là Nguyễn Mậu Đ, sinh năm 1972 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2000.

Bị cáo đang tại ngoại tại 59 H, xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Chiều Văn S, sinh năm: 1989 (vắng mặt)

Địa chỉ: H, xã Q , huyện C, tỉnh Đắk Lắk

+ Ông Y T (Ama H1), sinh năm: 1983 (vắng mặt)

Địa chỉ: Buôn T, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk

+ Ông Nguyễn Mậu T1, sinh năm: 1970 (vắng mặt)

Địa chỉ: H, xã Q , huyện C, tỉnh Đắk Lắk

+ Ông Bàn Phu S, sinh năm: 1978 (vắng mặt)

Địa chỉ: H, xã Q , huyện C, tỉnh Đắk Lắk

+ Ông Nguyễn Mậu Đ, sinh năm: 1972 (có mặt)

Địa chỉ: H, xã Q , huyện C, tỉnh Đắk Lắk

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 15 phút, ngày 09/12/2019, Cao Thị H với Y T và Chiều Văn S thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số đề tại nhà H địa chỉ số nhà 59, thôn H, xã Q , huyện C.

Tại nhà H , T đưa cho H số tiền 2.200.000 đồng (hai triệu hai trăm ngàn đồng) nói H ghi cho T các con số bao lô đề xổ số kiến thiết miền Bắc: Số 52 là 50 điểm (50x22.000đồng = 1.100.000đồng); Số 72 là 50 điểm (50 x 22.000đồng = 1.100.000đồng); Chiều Văn S đưa cho H số tiền 3.550.000 đồng (ba triệu năm trăm năm mươi ngàn đồng) nói H ghi cho S các con số bao lô đề xổ số kiến thiết miền Bắc: Số 31 là 100 điểm (100 x 22.000đồng = 2.200.000đồng); Số 71 là 50 điểm (50 x 22.000đồng = 1.100.000đồng); Số 71 dự đoán 02 số cuối của giải đặc biệt là 50.000 đồng; dự đoán 02 số cuối của giải bảy là 50.000 đồng, có 04 giải, (4x50.000 đồng = 200.000 đồng). H đưa lại cho T một tờ giấy có ghi các dãy số “52x50, 72x50” và đưa cho S một tờ giấy có ghi các dãy số “31x100, 71x50, 50-71-50”.

Đến khoảng 17 giờ 20 phút cùng ngày, ngay sau khi H thực hiện hành vi ghi số đề thì bị Công an huyện Čư M’gar bắt quả tang. Quá trình bắt quả tang đã thu giữ số tiền 5.750.000 đồng mà H vừa nhận của T và S; 01 tờ giấy (phơi đề) do H ghi có các dãy số “52x50, 72x50, 31x100, 71x50, 50-71-50”; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A37f và một số đồ vật, tài liệu liên quan đến việc đánh bạc, qua kiểm tra thu giữ trong người H còn có số tiền 1.340.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định, ngoài việc ghi số đề cho T và S số tiền 5.750.000 đồng nêu trên thì vào các ngày 08 và 09/12/2019, H còn nhận ghi số đề của một số đối tượng khác số tiền 3.780.000 đồng nhưng thực tế H mới nhận 1.340.000 đồng, số tiền còn lại là 2.440.000 đồng thì H chưa nhận được do một số người ghi lô đề chưa đưa. Sau đó sử dụng điện thoại Oppo sim số 0357120841 nhắn tin chuyển số đề đến số điện thoại 0942695597 cho Nguyễn Mậu T cụ thể như sau:

Ngày 08/12/2019: H ghi số đề và nhận tiền 03 lần:

- Lần thứ nhất: Sau khi ghi số đề và nhận tiền 620.000 đồng của người ghi số đề, H gửi tin nhắn với các dãy số (82x10, 07x20, 107x5, 35x5, 12-09-07 đầu 10 đuôi 10, ghi đề của kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Kon Tum cho Nguyễn Mậu T1 . Sau khi nhận tiền H dự định đưa cho ông T1 tiền cược (tiền xác) là 568.000 đồng, H sẽ giữ số tiền còn lại là 52.000 đồng tiền hoa hồng. Căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Kon Tum vào lúc 17 giờ 15 phút cùng ngày, thì không có con số nào trùng với kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Kon Tum nên H và ông T1 thắng hết số tiền cược trên của người ghi số đề. Quá trình điều tra, không xác định được người nào đã nói H ghi lô đề với số tiền nêu trên.

- Lần thứ hai: H gửi tin nhắn với các dãy số 28x25, 128x5, 21x20, 28 đầu 10 đuôi 10, 22x20, 522x5” ghi số đề của kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc cho ông T1. Số tiền cá cược H nhận của người ghi đề là 1.700.000 đồng. Sau khi nhận tiền H dự định đưa cho ông T1 tiền cược (tiền xác) là 1.540.000 đồng, H sẽ giữ số tiền còn lại 160.000 đồng tiền hoa hồng. Căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc vào lúc 18 giờ 15 phút cùng ngày thì không có con số nào nêu trên trúng nên H và ông T1 thắng hết số tiền cược trên. Quá trình điều tra, không xác định được người nào đã nói H ghi số đề với số tiền nêu trên.

- Lần thứ ba: H nhận ghi số đề theo kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc với Bàn Phu S, T1 qua tin nhắn điện thoại từ số thuê bao 0336561829 của S với nội dung cá cược là “ 28 đầu 5 đuôi 5, 26 đầu đuôi 5, 28x5”. Số tiền cược với dãy số trên là 160.000đồng. Kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc vào lúc 18 giờ 15 phút cùng ngày, không ra các con số nào trùng với các con số mà S đã cá cược nêu trên nên H thắng hết số tiền cược trên.

Ngày 09/12/2019, H ghi số đề và nhận tiền 03 lần:

- Lần thứ nhất: H gửi tin nhắn với các dãy số “32x10, 52x20, 52 đầu 20 đuôi 20, 10x20, 22x10” ghi số đề của kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Phú Yên với Nguyễn Mậu T1 . Số tiền mua đề H nhận của người ghi đề là 880.000 đồng. Sau khi nhận tiền H dự định đưa cho ông T1 tiền cược (tiền xác) là 812.000 đồng, H sẽ giữ lại 68.000 đồng là tiền hoa hồng. Căn cứ kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Phú yên vào lúc 17 giờ 15 phút cùng ngày, thì không có con số nào nêu trên trúng nên H và ông T1 thắng hết số tiền cược trên. Quá trình điều tra, không xác định được người nào đã nhờ H ghi số đề với số tiền nêu trên.

- Lần thứ hai: H nhận ghi số đề của kết quả xổ số kiến thiết miền Trung (xổ số kiến thiết tỉnh Phú Yên) cho 03 người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch và ghi phơi đề bằng 01 tờ giấy trắng với nội dung: (76x10, 32-15, 52-10, 54-10, 71-10; 20-52-20, 10-32-10; 53-5, 35-5, 08-5), số tiền là 185.000 đồng; Người thứ hai ghi các số (20-52-20, 10-32-10, 20-52-20), số tiền đặt cược của người này là 60.000 đồng; Người thứ ba ghi các số 53-5, 35-5, 08-5, số tiền là 15.000 đồng. Tổng số tiền ghi số đề là 260.000 đồng. Căn cứ vào kết quả xổ số Phú Yên thì không có số nào trúng nên H thắng số tiền cược trên.

- Lần thứ ba: H nhận ghi số đề theo kết quả xổ số kiến thiết miền Trung (Phú Yên) của Bàn Phu S, T1 qua tin nhắn điện thoại với nội dung cá cược là dãy số (76 đầu 10 đuôi 10, 76x5, 90x5). Số tiền cược theo các số trên là 160.000 đồng. Căn cứ vào kết quả xổ số Phú Yên thì không có số nào trúng nên H thắng số tiền cược trên.

Ngày 28/12/2019, Cơ quan CSĐT Công an huyện Čư M’gar ra Quyết định trưng cầu giám định số 14 trưng cầu Phòng PC09 Công an tỉnh Đắk Lắk Giám định chữ viết của các chữ số “52x50, 72x50, 31x100, 71x50, 50-71-50”; “52x50, 72x50”; “31x100, 71x50, 50-71-50” và dãy số “76x10, 32-15, 52-10, 54-10, 71-10, 20-52-20, 10-32-10, 53-5, 35-5, 08-5” được ghi trong các mẫu giấy thu giữ được và Bản tự khai của Cao Thị H vào ngày 09/12/2019, có phải cùng một người viết ra không?

Tại bản Kết luận giám định số: 1095/PC09 ngày 13/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh ĐắkLắk kết luận: Chữ viết và các chữ số có trong các tài liệu cần giám định, là do cùng một người viết ra.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐGTS ngày 03/02/2020, của Hội đồng định giá tài sản tố tụng huyện Čư M’gar kết luận: Giá trị căn phòng là 15.594.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 11/KT -VKS ngày 13 tháng 3 năm 2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar đã truy tố bị cáo Cao Thị H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; đồng thời giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung cáo trạng và đưa ra các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Cao Thị H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1 Điều 51 khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Cao Thị H từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách tứ 18 đến 24 tháng

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46 khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 7.090.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, số loại A37f, màu hồng, sử dụng sim số 1: 0357120841, sim số 2: 0988451228 của Cao Thị H ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy J6, màu đen, số IMEI 1: 352812102141944, số IMEI 2: 35283102141942 của Nguyễn Mậu T1 ;

- Đối với căn phòng Cao Thị H sử dụng để ghi số đề tại 59 H, Q , huyện C, tỉnh Đắk Lắk đề nghị truy thu 1/2 giá trị là 7.797.000 đồng.

- Tịch thu tiêu hủy phơi đề được ghi trong các tờ giấy có nội dung 52x50, 72x50, 31x100, 71x50, 50-71-50”; “52x50, 72x50”; “31x100, 71x50, 50-71-50” và dãy số “76x10, 32-15, 52-10, 54-10, 71-10, 20-52-20, 10-32-10, 53-5, 35-5, 08-5; 01 bút bi màu trắng bạc, mực xanh, thân bút có ghi dòng chứ G.STAR JETLINE bị cáo sử dụng để ghi số đề

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến đối đáp tranh luận gì, bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ phần hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện CưM’gar, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi của mình đã thực hiện. Khoảng 17 giờ 20 phút, ngày 09/12/2019, tại số nhà 59 thôn H, xã Q , huyện C, tỉnh Đắk Lắk, Cao Thị H có hành vi bán số đề cho Y T với số tiền 2.200.000 đồng; Chiều Văn S với số tiền 3.550.000 đồng thì bị Công an huyện Čư M’gar bắt quả tang. Quá trình điều tra, xác định được Cao Thị H đã bán số đề vào ngày 08, 09/12/2019 cho một số đối tượng với số tiền 3.780.000, tuy nhiên H mới chỉ nhận được số tiền là 1.340.000 đồng. Tổng số tiền Cao Thị H đã thực hiện hành vi bán số đề là 9.530.000 đồng.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với cáo trạng, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, cũng như các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận hành vi nêu trên của bị cáo Cao Thị H đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Điều 321 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh truy tố, mức hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo là có căn cứ phù hợp với pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu nhiều mặt tới cuộc sống bình thường của gia đình bị cáo, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an của địa phương, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đã gây ra.

Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi và nhận thức, biết được rằng đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật là vi phạm pháp luật, là tệ nạn xã hội mà Nhà nước nghiêm cấm. Song do ý thức coi thường pháp luật, thói tham lam tư lợi, muốn kiếm tiền bằng con đường bất chính nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo:

Xét về nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu tiên phạm tội. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, nhằm thể hiện chính sách khoan hồng nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.

Với tính chất mức độ hành vi phạm tội và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng chế định miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện để bị cáo cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình là phù hợp.

Về xử lý vật chứng: Đối với công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội và số tiền thu lợi bất chính của bị cáo từ việc phạm tội cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước cụ thể như sau: số tiền 7.090.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, số loại A37f, màu hồng, sử dụng sim số 1: 0357120841, sim số 2: 0988451228 của Cao Thị H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy J6, màu đen, số IMEI 1: 352812102141944, số IMEI 2: 35283102141942 của Nguyễn Mậu T1 ;

Đối với các phơi đề được ghi trong các tờ giấy có nội dung 52x50, 72x50, 31x100, 71x50, 50-71-50”; “52x50, 72x50”; “31x100, 71x50, 50-71-50” và dãy số “76x10, 32-15, 52-10, 54-10, 71-10, 20-52-20, 10-32-10, 53-5, 35-5, 08-5; 01 bút bi màu trắng bạc, mực xanh, thân bút có ghi dòng chứ G.STAR JETLINE bị cáo sử dụng để ghi số đề cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định tại khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật hình sự.

Đối với căn phòng có diện tích (5m x 5m), chiều cao 3,7m xung quanh được xây bằng gạch tô xi măng, màu S xanh, mái lợp tôn, trần làm bằng thạch cao, nền nhà được lát bằng gạch men màu vàng là căn phòng mà bị cáo Cao Thị H đã sử dụng để làm nơi ghi lô đề. Giá trị căn phòng là 15.594.000 đồng xét thấy đây là tài sản chung của bị cáo H và chồng là Nguyễn Mậu Đ, ông Đ không biết về hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước 1/2 giá trị căn phòng là 7.797.000 đồng.

Trong vụ án này Chiều Văn S có hành vi ghi số đề với số tiền số tiền là 3.550.000 đồng; Y T ghi số đề với số tiền là 2.200.000 đồng, Nguyễn Mậu T1 nhận số ghi đề T1 qua Cao Thị H với tổng số tiền là 2.920.000 đồng; Bàn Phu S ghi số đề với số tiền 320.000 đồng, xác định chưa đủ định lượng và yếu tố cấu thành tội Đánh bạc. Ngày 17/02/2020, Công an huyện CưM’gar ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Chiều Văn S, Y T, Bàn Phu S mỗi người số tiền 350.000 đồng, quy định tại khoản 1, điều 26, Nghị định 167/2013/NĐ-CP, ngày 12/11/2013 của chính phủ và xử phạt Nguyễn Mậu T1 số tiền 2.000.000 đồng về hành vi Đánh bạc trái phép, quy định tại điểm a, khoản 2, điều 26, Nghị định 167/2013/NĐ-CP, ngày 12/11/2013 của chính phủ là phù hợp.

Đối với Nguyễn Mậu Đ là chồng của bị cáo Cao Thị H. Quá trình điều tra xác định khi bị cáo H ghi số đề tại nhà thì ông Đ không có mặt, không bàn bạc, thỏa thuận từ trước, không tham gia giúp sức hưởng lợi gì từ việc đánh bạc, vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm đ, khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Cao Thị H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Tuyên bố: Cao Thị H phạm tội “Đánh bạc”

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự 2015:

Xử phạt bị cáo: Cao Thị H 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Cao Thị H cho Ủy ban nhân dân xã Q , huyện C, tỉnh Đắk Lắk nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục; gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú được áp dụng theo khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[2] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46 khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước cụ thể như sau: số tiền 7.090.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, số loại A37f, màu hồng, sử dụng sim số 1: 0357120841, sim số 2: 0988451228 của Cao Thị H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy J6, màu đen, số IMEI 1: 352812102141944, số IMEI 2: 35283102141942 của Nguyễn Mậu T1 ;

Tịch thu tiêu hủy các phơi đề được ghi trong các tờ giấy có nội dung 52x50, 72x50, 31x100, 71x50, 50-71-50”; “52x50, 72x50”; “31x100, 71x50, 50-71-50” và dãy số “76x10, 32-15, 52-10, 54-10, 71-10, 20-52-20, 10-32-10, 53-5, 35-5, 08-5; 01 bút bi màu trắng bạc, mực xanh, thân bút có ghi dòng chứ G.STAR JETLINE.

(Tình trạng và đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra – Công an huyện Cư Mgar và Chi cục Thi hành án dân sự huyện CưMgar ngày 16/03/2020).

Truy thu sung công quỹ nhà nước 1/2 giá trị căn phòng là 7.797.000 đồng giá trị căn phòng bị cáo Cao Thị H đã sử dụng để làm nơi ghi số đề.

[3] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm đ, khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Cao Thị H phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Cỡ chữ