vanban.org

Bản án 19/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 20/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 13 tháng 01 năm 2020. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Đ - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHI LĂNG
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2020/HS-ST
Ngày 20-4-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHI LĂNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Hương Giang.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thanh Hà;

Bà Hoàng Thị Lá.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Phấn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Mã Văn Thông - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2020/TLST-HS, ngày 24 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2020/QĐXXST-HS, ngày 09 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 12 tháng 8 năm 1997 tại thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ thường trú và chỗ ở: Thôn L, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: Làm ruộng; con ông: Nguyễn Văn Đ1 và bà: Lương Thị L; có vợ: Hoàng Thị N và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Chi Lăng từ ngày 13/01/2020 đến nay, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nông Quốc B, sinh năm 2002; nơi cư trú: Thôn C, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 13 tháng 01 năm 2020, tại thôn L, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, Công an huyện Chi Lăng bắt quả tang Nguyễn Văn Đ bán trái phép chất ma túy cho Nông Quốc B. Kiểm tra, thu giữ trong túi quần đằng trước bên phải đang mặc của Nông Quốc B 01 túi nilon trong suốt, bên trong chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng Nông Quốc B khai nhận đó là ma túy đá vừa mua của Nguyễn Văn Đ để sử dụng và 01 điện thoại di động NOKIA màu đen. Thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của Nguyễn Văn Đ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) và 01 điện thoại di động I PHONE 6 màu đen trắng. Cùng ngày, Công an huyện Chi Lăng tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn Đ nhưng không phát hiện, thu giữ gì thêm.

Tại Kết luận giám định số: 63/KL-PC09, ngày 14/01/2020 của phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Các hạt tinh thể rắn màu trắng thu giữ của Nông Quốc B gửi giám định đều là chất ma túy Methamphetamine có tổng khối lượng 0,052 gam (đã trừ bì) .

Tại Kết luận giám định số: 52/KLGĐ-PC09, ngày 16/01/2020 của phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Số tiền 300.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn Đ gửi giám định đều là tiền thật.

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Văn Đ đã khai nhận hành vi phạm tội: Sáng ngày 11 tháng 01 năm 2020, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Nguyễn Văn Đ nảy sinh ý định đi tìm mua ma túy. Trong lúc chờ xe, Nguyễn Văn Đến ngồi uống nước tại một quán nước cạnh đường quốc lộ 1A thuộc thôn L, thị trấn C, huyện C thì gặp một người đàn ông khoảng 30 tuổi, không quen biết, hỏi chuyện qua lại người đàn ông biết Nguyễn Văn Đ đang đi tìm mua ma túy đá để sử dụng thì bảo Nguyễn Văn Đ ngồi đợi để đi lấy ma túy, khoảng 15 phút sau người này quay lại đưa cho Nguyễn Văn Đ một túi nilon bên trong có chứa ma túy đá, Nguyễn Văn Đ đưa cho người này 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Nguyễn Văn Đ về nhà đem túi ma túy sẻ một ít ra để sử dụng, số còn lại mang theo người để sử dụng hoặc bán cho người khác. Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 13 tháng 01 năm 2020, Nguyễn Văn Đ nhận được điện thoại của Nông Quốc B hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá thì đồng ý bán. Khoảng 12 giờ cùng ngày, Nông Quốc B gọi điện thoại cho Nguyễn Văn Đ thông báo đã đến địa điểm hẹn thì Nguyễn Văn Đ cầm túi nilon ma túy đá, đi bộ từ nhà ra đầu ngõ gặp và đưa cho Nông Quốc B gói ma túy và nhận 300.000 đồng rồi cất tiền vào túi quần phía trước bên phải thì bị Công an huyện Chi Lăng phát hiện, bắt quả tang.

Vật chứng đang tạm giữ gồm: 0,041 gam ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định; 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu I PHONE 6 màu đen trắng.

Cáo trạng số: 25/CT-VKSCL, ngày 24/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan điều tra và khẳng định bị cáo bị truy tố, xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma túy là đúng, không oan. Bị cáo khai mua ma túy của một người đàn ông không biết tên, mục đích để sử dụng và bán lại cho các đối tượng nghiện kiếm lợi nhuận.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng truy tố và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, đồng thời đánh giá động cơ, mục đích, tác hại của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, đánh giá về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng áp dụng đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng, tịch thu và tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; tịch thu và nộp ngân sách nhà nước 02 chiếc điện thoại di động các loại, 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

Phần tranh luận: Bị cáo Nguyễn Văn Đ không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo phù hợp với các chứng cứ khác và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên là hợp pháp.

Bị cáo Nguyễn Văn Đ đã khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, thể hiện: Ngày 11 tháng 01 năm 2020, bị cáo Nguyễn Văn Đ mua ma túy của một người đàn ông không biết tên đem về sử dụng một phần, phần còn lại bị cáo đem theo người để sử dụng hoặc bán cho người khác nhằm mục đích kiếm lời. Khoảng 12 giờ, ngày 13 tháng 01 năm 2020 tại thôn L, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, bi cáo Nguyễn Văn Đ đã bán 01 gói ma túy Methamphetamine có khối lượng 0,052 gam cho anh Nông Quốc B thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Đánh tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Đ là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, hành vi đó gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự của địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo Nguyễn Văn Đ là người có thể chất phát triển bình thường, có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy đối với con người và những ảnh hưởng tiêu cực của ma túy đối với mọi mặt của đười sống xã hội nhưng do ham chơi, đua đòi dẫn đến sử dụng trái phép chất ma túy và do hám lợi nên bị cáo đã cố ý bán ma túy cho người khác. Do vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật, nhằm răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Để cá thể hóa hình phạt, ngoài việc xem xét tính chất, hành vi phạm tội nêu trên thì còn phải xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ để quyết định hình phạt. Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Văn Đ chưa có tiền án, tiền sự nhưng là người sử dụng trái phép chất ma túy nên là người có nhân thân không tốt. Về tình tiết tăng nặng: Không có. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy cần cách ly bị cáo Nguyễn Văn Đ ra khỏi xã hội một thời gian để được cải tạo, giáo dục trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo vì bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng để đảm bảo cho việc thi hành án, việc này phù hợp với kết quả xác minh của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chi Lăng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn Đ khai nhận nguồn gốc ma túy là do bị cáo mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ thuộc thôn L, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Do không có thông tin cụ thể nên không thể điều tra, xác minh.

Đối với anh Nông Quốc B đã mua ma túy với bị cáo Nguyễn Văn Đ để sử dụng nhưng số ma túy thu giữ được không đủ khối lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chi Lăng đã chuyển hồ sơ cho Ban Công an thị trấn Đồng Mỏ, huyện Chi Lăng để xử lý hành chính theo quy định là có căn cứ.

Về vật chứng: Đối với số ma túy còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu và tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6 màu đen trắng của bị cáo Nguyễn Văn Đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NÔKIA màu đen của Nông Quốc B là công cụ để bị cáo liên lạc, trao đổi với nhau về việc mua bán ma túy và số tiền 300.000 đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn Đ là tiền có được từ hành vi bán ma túy, do vậy cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Cáo trạng số: 25/CT-VKSCL, ngày 24 tháng 03 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ theo tội danh và điều khoản trong Bộ luật Hình sự như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị về tội danh, về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ và về xử lý vật chứng của vụ án là có cắn cứ.

Về án phí: Do bị cáo Nguyễn Văn Đ bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38, 47, 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điểm a, b khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; các Điều 260, 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2017. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 13 tháng 01 năm 2020.

3. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu và tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì thư ký hiệu “01” dán kín có chữ ký và con dấu của các thành phần tham gia.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen có số model 1202; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6 màu đen trắng, có số model A1549 và số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữ Cơ quan Công an huyện Chi Lăng và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chi Lăng; ủy nhiệm chi lập ngày 31 tháng 03 năm 2020).

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ