- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Văn T (Đứng) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ s…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T (Đứng) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; luật tố tụng hình sự xử lý; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:19/2020/HS-ST Ngày 06-05-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Cứ
Bà Nguyễn Thị Kim Linh
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiệp – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Xuân Lai - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2020/TLST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2020/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2020, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T (Đ), sinh năm 1980, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi cư trú: Ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1944 (chết) và bà Đỗ Thị S, sinh năm 1949; Vợ Nguyễn Thị C, con có 01 người sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo bị tạm giữ ngày 09/01/2020, tạm giam ngày 15/01/2020 cho đến nay “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 10 giờ 15 phút ngày 09/01/2020 tại quán cà phê N thuộc ấp S, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Tây Ninh phối hợp với Công an xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh kiểm tra phát hiện và lập biên bản phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn T đang cất giấu trong túi áo bên trái đang mặc 10 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa chất rắn màu trắng, nghi là chất ma túy. Tang vật thu giữ gồm 10 đoạn ống nhựa (06 ống màu xanh, 04 ống màu đỏ) được niêm phong theo quy định; Một điện thoại di động hiệu Masstel và một ống kim tiêm đã qua sử dụng.
Quá trình điều tra chứng minh được: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 04 giờ 30 phút ngày 09/01/2020, T đón xe khách đến khu vực ngã ba C thuộc huyện H, thành phố Hồ Chí Minh gặp một người thanh niên không rõ họ tên địa chỉ cụ thể để mua chất ma túy với giá 800.000 đồng, cất giấu trong người rồi đón xe khách về Tây Ninh. Khi đến quán cà phê N thuộc ấp S, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh T đi vào quán uống nước. và chia nhỏ chất ma túy vừa mua được vào 06 đoạn ống nhựa màu xanh và 04 đoạn ống nhựa màu đỏ, cất giấu vào túi áo bên trái đang mặc, với mục đích để sử dụng. Đến khoảng 10 giờ thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang. Kết luận giám định số 42/KL-KTHS ngày 14/01/2020 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Mẫu chất rắn màu trắng bên trong 10 đoạn ống nhựa là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng là 0,4529 gam.
Tại bản cáo trạng số: 29/CT-VKSCT ngày 18 tháng 3 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tranh luận và luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c, Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo T từ 12 tháng đến 15 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy một gói ma túy (đã niêm phong) và một ống kim tiêm; Trả cho bị cáo một điện thoại di động hiệu Masstel.
Trong vụ án này, đối tượng bán ma túy cho T do không xác định được họ tên địa chỉ cụ thể nên không làm việc được, khi nào làm rõ xử lý sau.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn hối hận cho việc làm sai trái của mình. Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận: Ngày 09/01/2020 tại quán cà phê N thuộc ấp S, xã Đ, huyện C bị cáo có hành vi cất dấu bất hợp pháp ma túy trong người loại Hêroine với trọng lượng như kết luận giám định là 0,4529 gam, nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo là hoàn toàn phù hợp với cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, theo đúng nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét khẩn cấp, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có cơ sở để kết luận: bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội thấy rằng: Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quy định độc quyền quản lý, sử dụng chất ma tuý của Nhà nước; làm lan truyền tệ nạn nghiện hút, tiêm chích ma tuý trong cộng đồng, gây mất an ninh trật tự ở địa phương, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm khác trong xã hội. Do đó cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo:
Tình tiết tăng nặng: không có
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có cha là thương binh - là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo nhân thân xấu, từ năm 2011 đến năm 2013 bị đưa đi cai nghiện bắt buộc, tuy nhiên sau khi cai nghiện xong bị cáo lại tái nghiện, điều này thể hiện bị cáo thiếu tu dưỡng, rèn luyện bản thân.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản hay quyền sử dụng đất, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[ 6] Xét lời luận tội của vị Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh đưa ra đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân cùng các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 bộ luật tố tụng hình sự xử lý như sau: Một gói niêm phong, ghi chữ vụ số 42/KL-KTHS (M), có dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh là chất ma tuý Nhà nước cấm lưu hành và 01 ống kim tiêm đã qua sử dụng không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy. Một điện thoại di động hiệu Masstel, số IMEL 911210851570690 của bị cáo (đã qua sử dụng), không sử dụng vào việc phạm tội nên cần tuyên trả lại cho bị cáo
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T (Đứng) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T (Đứng) 01 (Một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/01/2020.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 gói ma túy đã niêm phong, ghi chữ vụ số 42/KL-KTHS (M), có dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh và 01 ống kim tiêm đã qua sử dụng (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/03/2020). Tuyên trả cho bị cáo T 01 điện thoại di động hiệu Masstel, số IMEL 911210851570690 (đã qua sử dụng). Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/03/2020 giữa Công an huyện C, tỉnh Tây Ninh và Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Tây Ninh.
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện C; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - Chi cục THADS huyện C; - Cơ quan điều tra Công an huyện C; - Cơ quan thi hành án hình sự C.A h.Châu Thành; - Lưu: Hồ sơ, Tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu |