vanban.org

Bản án 19/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 27/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Lê Hoàng T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05 tháng 3 năm 2020. Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN BẾN CẦU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2020/HS-ST
Ngày 27-5-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU - TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Phan Thị Vân.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hồng Phúc.

Ông Ông Lê Văn Rẽn.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tươi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đình Lưỡng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2020/TLST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2020/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

Lê Hoàng T, sinh năm: 1979, tại tỉnh Tây Ninh; Nơi đăng ký nhân khầu thường trú: Ấp C, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn R (đã chết) và bà Võ Thị E (đã chết); vợ: Nguyễn Thị Ngọc H (đã ly hôn), con: chưa có; tiền án: Ngày 02-3-2015 bị Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, chưa được xóa án tích do chưa chấp hành xong án phí dân sự sơ thẩm và bồi thường dân sự; tiền sự: không có. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05 tháng 3 năm 2020 đến nay. Bị cáo có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 10 giờ 30 phút ngày 05-3-2020, tại khu vực Ấp C, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh, Công an huyện Bến Cầu phối hợp cùng Công an xã An Thạnh, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh bắt quả tang Lê Hoàng T đang cất giấu 11 bịch nilon màu trắng hàn kín bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng được hàn kín (nghi là ma túy) để trong ống nhựa PVC nên lập biên bản bắt quả tang, tạm giữ người và vật chứng. Lê Hoàng T là người nghiện chất ma túy nên khoảng 13 giờ ngày 29-2-2020, T điều khiển xe mô tô biển số 70C1-246.66 đi từ nhà thuộc Ấp C, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh sang Campuchia để mua chất ma túy. Khi đến khu vực thuộc thành phố Bavet, tỉnh Svay Riêng, Campuchia, T trực tiếp đến gặp một người đàn ông Campuchia (không rõ lai lịch) hỏi mua một bịch ma túy với giá 1.500.000 đồng, người đàn ông này đồng ý bán cho T. Sau khi nhận ma túy xong, T cất giấu vào cốp xe mô tô và điều khiển xe về Việt Nam. Khi về đến nhà, T chia nhỏ chất ma túy ra thành 12 bịch, sau đó sử dụng 01 bịch, còn lại 11 bịch cất giấu để dành sử dụng. Đến khoảng 10 giờ 30 phút ngày 05-3-2020 thì bị bắt quả tang.

Kết luận giám định số 345/KL-KTHS ngày 06-3-2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng bên trong 11 bịch ny lon màu trắng hàn kín, ký hiệu M, gửi đến giám định là chất ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 1,7808 gam.

Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng:

Các vật chứng được thu giữ hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Cầu đang giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03-4-2020 gồm:

- 01 (một) gói niêm phong vụ số 345/KL-KTHS;

- 01 (một) chai nhựa màu trắng, phía trên có nắp màu đỏ, trên nắp có gắn 01 đoạn ống bằng thủy tinh và 01 đoạn ống nhựa màu xanh;

- 01 (một) xe mô tô màu đỏ - đen, biển số 70C1-246.66, số khung C640AY234796, số máy 5664234803.

- 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 014983;

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu hồng, số IMEL: 35590707258575/01;

- 01 (một) đoạn ống nhựa có dòng chữ PVC.

- 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số 290604022.

Lê Hoàng T không có tài sản nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh không kê biên tài sản.

Đối với người đàn ông người Campuchia bán ma túy cho T do thực hiện hành vi mua bán ma túy ở Campuchia, không rõ lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bến Cầu không làm việc được.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lê Hoàng T, Công an huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh đã xử phạt hành chính.

Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại bản cáo trạng số: 11/CT-VKSBC ngày 31 tháng 3 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu đã truy tố Lê Hoàng T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Hoàng T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điểm h Khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Hoàng T từ 02 (Hai) năm đến 03 (Ba) năm tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo không trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bến Cầu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo thể hiện: Ngày 29-2-2020, bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 70C1-246.66 đi từ nhà thuộc Ấp C, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh sang Campuchia gặp một người đàn ông Campuchia (không rõ lai lịch) hỏi mua một bịch ma túy với giá 1.500.000 đồng. Sau khi nhận ma túy xong, bị cáo cất giấu vào cốp xe mô tô và điều khiển xe về Việt Nam. Khi về đến nhà, bị cáo chia nhỏ chất ma túy ra thành 12 bịch, sau đó sử dụng 01 bịch, còn lại 11 bịch cất giấu để dành sử dụng. Đến khoảng 10 giờ 30 phút ngày 05-3-2020 thì bị bắt quả tang.

Tại kết luận giám định số 345/KL-KTHS ngày 06-3-2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng bên trong 11 bịch ny lon màu trắng hàn kín, ký hiệu M, gửi đến giám định là chất ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 1,7808 gam. Do đó, có đủ căn cứ kết luận hành vi của Lê Hoàng T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu đã truy tố bị cáo Lê Hoàng T là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lê Hoàng T, Công an huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh đã xử phạt hành chính. Đối với người đàn ông người Campuchia bán ma túy cho T do thực hiện hành vi mua bán ma túy ở Campuchia, không rõ lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bến Cầu không làm việc được.

Hành vi phạm tội của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Việc tàng trữ ma túy để sử dụng của bị cáo là nguy hiểm cho bản thân, gia đình và xã hội. Bởi lẽ, người nghiện ma túy sẽ dễ bị thoái hóa nhân cách, rối loạn hành vi, có lối sống buông thả dễ vi phạm pháp luật, gây mất trật tự an toàn xã hội là một trong những nguyên nhân gia tăng các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tính răn đe, giáo dục và phòng chống tội phạm.

Khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T đã từng bị xử phạt hình phạt tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội. Lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có tài sản. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Các vật chứng được thu giữ trong vụ án hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Cầu đang giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03-4-2020. Hội đồng xét xử xét thấy:

- Đối với 01 (một) gói niêm phong vụ số 345/KL-KTHS là vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy;

- Đối với 01 (một) chai nhựa màu trắng, phía trên có nắp màu đỏ, trên nắp có gắn 01 đoạn ống bằng thủy tinh và 01 đoạn ống nhựa màu xanh là vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy;

- Đối với 01 (một) xe mô tô màu đỏ - đen, biển số 70C1-246.66, số khung C640AY234796, số máy 5664234803. Đây là tài sản của bị cáo không sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo;

- Đối với 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 014983. Đây là tài sản của bị cáo không sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo;

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu hồng, số IMEL: 35590707258575/01. Đây là tài sản của bị cáo không sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo;

- Đối với 01 (một) đoạn ống nhựa có dòng chữ PVC là vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số 290604022. Đây là tài sản của bị cáo không sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo Lê Hoàng T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt Lê Hoàng T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05 tháng 3 năm 2020.

2. Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong vụ số 345/KL-KTHS; 01 (một) chai nhựa màu trắng, phía trên có nắp màu đỏ, trên nắp có gắn 01 đoạn ống bằng thủy tinh và 01 đoạn ống nhựa màu xanh; 01 (một) đoạn ống nhựa có dòng chữ PVC.

- Trả lại cho bị cáo 01 (một) xe mô tô màu đỏ - đen, biển số 70C1-246.66, số khung C640AY234796, số máy 5664234803; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 014983; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu hồng, số IMEL: 35590707258575/01; 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số 290604022.

Các vật chứng hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Cầu đang giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03-4-2020.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo Lê Hoàng T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án hình sự sơ thẩm xử công khai, bị cáo Lê Hoàng T có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ