vanban.org

Bản án 19/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về yêu cầu khởi kiện: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Diễm H. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Diễm H được ly hôn với anh Lê Văn L. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn Hương - Luân"
  • Tòa quyết gì? Điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:19/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 26-5-2020
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Lan

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Phạm Công Gia và ông Nguyễn Văn Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Chuyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Huỳnh – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2020, tại Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 529/2010/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2019, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2020/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Diễm H, sinh năm 1996

Địa chỉ: số 60, tổ 14, ấp 5, xã PĐ, huyện TP, tỉnh ĐN.

- Bị đơn: Anh Lê Văn L, sinh năm: 1986

Địa chỉ: số nhà 824/2, đội 11, ấp 4, xã PĐ, huyện TP, tỉnh ĐN.

(Chị H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, anh L vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 07/10/2019, sửa đổi bổ sung ngày 07/11/2019 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Diễm H trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Lê Văn L hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã PĐ, huyện TP, tỉnh ĐN và được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo luật định vào ngày 15-9-2015, số:62, quyển số 01/2015. Hai người bắt đầu chung sống hạnh phúc với nhau từ năm 2013 đến tháng 5/2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình hai người không hòa hợp, kinh tế không ổn định nhưng anh L không lo làm ăn dẫn đến xung đột cãi nhau thường xuyên kéo dài, không thể dung hòa được. Từ tháng 5/2017 hai người không còn sống chung với nhau. Nhận thấy tình cảm không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Lê Văn L.

- Về nuôi con chung: có 01 con chung tên Lê Ngọc Quỳnh N, sinh ngày 23/9/2013. Chị yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh L nhưng anh vẫn không đến Tòa án, vì vậy không ghi được lời khai của anh.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn triệu tập hợp lệ 02 lần không đến nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận đơn khởi kiện của chị H. Về hôn nhân: Chị H được ly hôn với anh Lê Văn L. Đề nghị giao con chung Lê Ngọc Quỳnh N, sinh ngày 23/9/2013 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời anh L không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: Do anh L vắng mặt không trình bày ý kiến nên đề nghị tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi phát sinh tranh chấp. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

Về áp dụng pháp luật tố tụng:

- Bị đơn anh Lê Văn L có nơi cư trú tại ấp 4, xã PĐ, huyện TP, tỉnh ĐN nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Chị H khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; chị là người khởi kiện nên xác định tư cách đương sự chị là nguyên đơn, anh L là bị đơn được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Ngày 21/02/2020 Tòa án lập biên bản ghi nhận về việc không tiến hành hòa giải được do bị đơn vắng mặt, bị đơn đã được tống đạt niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan nên Tòa án căn cứ vào Điều 207; khoản 2 Điều 208; khoản 3 Điều 210 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không tiến hành hòa giải, đồng thời Tòa án thông báo kết quả phiên họp cho đương sự vắng mặt biết.

- Chị H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn anh L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành thủ tục xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

Về áp dụng pháp luật nội dung:

- Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị H và anh L được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã PĐ và được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật, vào sổ cấp giấy số 62, quyển số:01/2015, ngày 15/9/2015. Như vậy, hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Cuộc sống chung hạnh phúc đến tháng 5/2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, kinh tế gia đình không ổn định, anh L vẫn còn ham chơi không lo làm ăn, có biểu hiện sử dụng chất kích thích nên dẫn đến xung đột cãi nhau thường xuyên kéo dài không thể dung hòa được, cũng từ thời gian này hai người không còn chung sống với nhau cho đến nay. Bản thân anh L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án tham gia tố tụng, qua đó thể hiện anh L có thái độ bỏ mặc, không có thiện chí hàn gắn đoàn tụ gia đình. Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ về tình trạng hôn nhân tại địa phương ngày 10/01/2020 cũng phù hợp với lời khai chị H. Như vậy anh L đã không thực hiện quyền nghĩa vụ chung của vợ chồng tại Điều của 19 Luật Hôn nhân và gia đình có quy định“Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình…có nghĩa vụ sống chung với nhau”.

Vì lẽ đó, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh L đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị, cho chị được ly hôn với anh L, quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; phù hợp với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.

Về nuôi con chung: Căn cứ vào các chứng cứ trong hồ sơ thể hiện chị H làm công nhân theo hợp đồng lao động của Công ty TNHH Mabuchi Motor Việt Nam. Thu nhập trung bình ổn định từ lương khoảng 10.000.000đ/tháng nên có đủ điều kiện nuôi con, đồng thời để ổn định cuộc sống và học tập cho con chung. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy việc tiếp tục giao con chung Lê Ngọc Quỳnh N, sinh ngày 23/9/2013 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Do chị không yêu cầu cấp dưỡng nên tạm thời miễn cho anh L nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và Gia đình. Anh L có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung anh L có quyền xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị H trình bày không có, không yêu cầu Tòa xem xét, giải quyết. Do anh L không có văn bản trình bày ý kiến và yêu cầu, vì vậy tách ra giải quyết vụ án khác khi có tranh chấp và yêu cầu.

Về án phí: Chị H phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 235; Điều 238 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về yêu cầu khởi kiện: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Diễm H.

- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Diễm H được ly hôn với anh Lê Văn L.

- Về con chung: Giao con chung Lê Ngọc Quỳnh N, sinh ngày 23/9/2013 cho chị Nguyễn Thị Diễm H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; tạm thời miễn cho anh L nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Anh L có quyền thăm nom chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do anh L không có văn bản trình bày ý kiến và yêu cầu, vì vậy tách ra giải quyết vụ án khác khi có tranh chấp và yêu cầu.

2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Diễm H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Số tiền 300.000đ chị H đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 005933 ngày 05-12-2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai được chuyển thành án phí.

3. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).

4. Về quyền kháng cáo: Chị H và anh L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ