vanban.org

Bản án 19/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đoàn Thị Ch, cho chị Ch được ly hôn anh Phan Thanh L.

Về con: Giao các cháu Phan Tuấn A - Sinh ngày 29/3/2009 và Phan Thị Lan A - Sinh ngày: 08/9/2012 cho chị Ch trực tiếp nuôi dưỡng, anh L không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh L có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung, không ai được cản trở. Về án phí: Chị Đoà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đoàn Thị Ch + Phan Thanh L"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đoàn Thị Ch, cho chị Ch được ly hôn anh Phan Thanh L.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2020/HNGĐ - ST
Ngày: 21-4-2020
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Văn Tuyển.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Úy; bà Trịnh Thị Yến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 21/4/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 238/2019/TLST - HNGĐ ngày 06/12/2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2020/QĐXXST - HNGĐ ngày 06/3/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2020/QĐST-HNGĐ ngày 24/3/2020 giữa:

- Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị Ch - Sinh năm: 1979 - Địa chỉ: Số 72/14, khu phố 3, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai - Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Phan Thanh L - Sinh năm: 1980 - Địa chỉ: Xóm 2, xã Th, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Vắng mặt (không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 04/12/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đoàn Thị Ch trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Phan Thanh L kết hôn vào ngày 20/11/2007, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Th, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Sau ngày kết hôn vợ chồng chị sống hạnh phúc được 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh L chơi bời, bài bạc, cá độ, không quan tâm đến vợ con, về nhà còn chửi bới vợ con. Chị có khuyên bảo nhưng anh L vẫn không thay đổi. Chị và các con đã sống ly thân anh L từ tháng 5/2017 đến nay, vợ chồng không quan tâm đến nhau. Nay chị thấy tình cảm không còn, không thể chung sống với nhau được nữa, chị yêu cầu được ly hôn anh L.

Về con: Vợ chồng chị có 02 con chung là Phan Tuấn A - Sinh ngày 29/3/2009 và Phan Thị Lan A - Sinh ngày: 08/9/2012. Hiện các cháu đang ở với chị. Chị yêu được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con và yêu cầu anh L phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung theo quy định của pháp luật. Tại bản tự khai ngày 13/12/2019 chị vẫn giữ nguyên quan điểm là được trực tiếp nuôi cả 02 con, không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, anh L đã biết được chị Ch khởi kiện xin ly hôn anh ra Tòa án nhưng anh vẫn cố tình vắng mặt, không hợp tác, không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, không nêu ý kiến của mình, nên vụ án không tiến hành hòa giải được.

Vụ án có liên quan đến người chưa thành niên nên Tòa án tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp theo quy định tại khoản 3 Điều 208 BLTTDS.

Tại phiên tòa hôm nay, anh L vắng mặt nên HĐXX quyết định xét xử vắng mặt anh L, còn chị Ch có đơn xin xét xử vắng mặt và đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; bị đơn không chấp hành các quyền và nghĩa vụ theo quy định.

- Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Thị Ch, cho chị Đoàn Thị Ch được ly hôn anh Phan Thanh L. Về con: Giao cả 02 cháu Phan Tuấn A - Sinh ngày 29/3/2009 và Phan Thị Lan A - Sinh ngày: 08/9/2012 cho chị Ch trực tiếp nuôi dưỡng; anh L không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Về án phí: Chị Ch phải chịu án phí DSST về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của chị Đoàn Thị Ch, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Đoàn Thị Ch có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa giải quyết việc ly hôn giữa chị và anh Phan Thanh L. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án huyện Nga Sơn.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã đến tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho anh Phan Thanh L biết việc chị Đoàn Thị Ch xin ly hôn anh. Nhưng trong quá trình giải quyết vụ án anh L vắng mặt nên không thống nhất được hướng giải quyết vụ án. Ngày 24/3/2020, Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử lần thứ nhất, anh L vắng mặt không có lý do nên phải hoãn phiên tòa. Như vậy, việc anh L không đến Tòa án để giải quyết vụ án là trường hợp cố tình trốn tránh. Tại phiên tòa hôm nay, chị Ch có đơn xin xét xử vắng mặt, anh L vắng mặt lần thứ 2, nên theo quy định điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử lần hai - vắng mặt cả chị Ch và anh L.

Về hôn nhân: Chị Đoàn Thị Ch và anh Phan Thanh L kết hôn ngày 20/11/2007, trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình đồng ý, không cản trở, cưới có đăng ký kết hôn, như vậy là hôn nhân hợp pháp. Anh chị chung sống hạnh phúc được khoảng 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh L chơi bời, bài bạc, cá độ, không quan tâm đến vợ con, về nhà còn chửi bới vợ con. Chị có khuyên bảo nhưng anh L vẫn không thay đổi. Chị và các con đã sống ly thân anh L từ tháng 5/2017 đến nay, không còn quan tâm đến nhau.

Tại biên bản xác minh ngày 24/12/2019, xóm trưởng xóm 2, xã Th cho biết anh L và chị Ch sau ngày kết hôn chung sống hạnh phúc được 05 năm thì xảy ra mâu thuẫn, do anh L chơi bời, bài bạc, nợ nần nên đến 2017 cho đến nay vợ chồng anh L và chị Ch sống ly thân nhau.

HĐXX thấy cuộc hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, cần giải quyết cho chị Ch được ly hôn anh L là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về con chung: Chị Ch và anh L có 02 con chung là Phan Tuấn A - Sinh ngày 29/3/2009 và Phan Thị Lan A - Sinh ngày: 08/9/2012. Chị Ch yêu cầu được trực tiếp nuôi cả 02 con. Ý kiến của cháu Tuấn A và cháu Lan A là nếu bố mẹ cháu không ở được với nhau thì các cháu có nguyện vọng được ở với mẹ.

HĐXX thấy, từ khi anh L và chị Ch sống ly thân nhau đến nay cả 02 cháu đều ở với chị Ch, hiện anh L không thường xuyên có ở nhà và không quan tâm đến các cháu. Mặt khác, nguyện vọng của cháu Tuấn A và cháu Lan A là được ở với mẹ, nên xử giao cả 02 cháu cho chị Ch trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật và thực tiễn.

Về mức cấp dưỡng: Chị Ch không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung, nên miễn xét.

Về tài sản: Chị Ch không yêu cầu giải quyết, nên miễn xét.

Về án phí: Chị Đoàn Thị Ch phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (DSST) về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật TTDS năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đoàn Thị Ch, cho chị Ch được ly hôn anh Phan Thanh L.

2. Về con: Giao các cháu Phan Tuấn A - Sinh ngày 29/3/2009 và Phan Thị Lan A - Sinh ngày: 08/9/2012 cho chị Ch trực tiếp nuôi dưỡng, anh L không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh L có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung, không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Đoàn Thị Ch phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí DSST mà chị đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2019/0010608 ngày 06/12/2019 của Chi cục THADS huyện Nga Sơn; chị Ch đã nộp đủ tiền án phí DSST.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Ch và anh L có quyền kháng bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ