- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân Hàng A - anh P"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A đối với anh P.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R’LẤP TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2020/DS-ST Ngày 21-8-2020 V/v“Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R’LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Công Tài
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Lợi
2. Ông Nguyễn Thế Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp tham gia phiên tòa: Ông Phan Xuân Hoàng – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 54/2020/TLST-DS ngày 26 tháng 02 năm 2020, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2020/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 7 năm 2020 và quyết định hoãn phiên tòa số: 20/2020/QĐST-DS ngày 28 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng A
Đại diện theo pháp luật: Ông T – Tổng giám đốc
Địa chỉ: Tháp B, 35 V, quận K, thành phố N
Đại diện theo ủy quyền lại: Bà H – Giám đốc phòng giao dịch C – có mặt.
Địa chỉ: Thôn C, xã C, huyện L, tỉnh N
Bị đơn: Anh P, sinh năm: 1982 – vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn Th, xã Th, huyện L, tỉnh N
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 18 -02-2020 và trong quá trình giải quyết vụ án bà H trình bày: Ngày 18-07-2016 anh P có vay vốn tại Ngân hàng A theo hợp đồng tín dụng số 01/2016/3263356/HĐTD ngày 18-07-2016, số tiền vay ban đầu 450.000.000 đồng, thời gian vay 36 tháng từ ngày 18-07-2016, trả nợ gốc ngày 18-07-2017 là 150.000.000 đồng, ngày 18-07-2018 là 150.000.000 đồng, ngày 18-07-2019 là 150.000.000 đồng; trả lãi vay 2 tháng/lần.
Để bảo đảm hợp đồng tín dụng thì anh P thế chấp 01 xe ô tô theo Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 004111 do Phòng Cảnh sát giao thông công an tỉnh N cấp ngày 07-0702016, cụ thể theo Hợp đồng thế chấp động sản số 01/2016/245162348/HĐTC ngày 18/07/2016 giữa Ngân hàng A với anh P. Đã được đăng ký thế chấp tài sản xe ô tô theo quy định của pháp luật.
Sau khi vay vốn, anh P đã trả được 50.000.000đồng tiền gốc ngày 20-7-2017, tiền lãi đã trả đến ngày 10-7-2017 là 54.818.750đồng, từ ngày 21-7-2017 cho đến nay anh P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng như cam kết. Ngân hàng A đã nhiều lần làm việc đôn đốc nhưng anh P vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Hiện khoản vay trên đã quá hạn với tổng số tiền là 555.911.459 đồng, trong đó tiền gốc: 400.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 13-12-2019 là 155.911.459 đồng. Như vậy anh A đã vi phạm hợp đồng tín dụng đã ký, xâm hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng A. Nay Ngân hàng A yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh P thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng A toàn bộ số nợ gốc và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 01/2016/3263356/HĐTD ngày 18-7-2016, tổng số tiền phải trả là 555.911.459 đồng, (trong đó: Tiền gốc là 400.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 13-12-2019 là 155.911.459 đồng) và toàn bộ nợ lãi phát sinh được tính tiếp từ ngày 14-12-2019 theo hợp đồng tín dụng số 01/2016/3263356/HĐTD ngày 18-07-2016 cho đến khi trả hết nợ.
Trong trường hợp anh P không thực hiện trả nợ hoặc thực hiện trả nợ không đầy đủ. Ngân hàng A có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý đối với tài sản bảo đảm là xe ô tô theo Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 004111 do Phòng Cảnh sát giao thông công an tỉnh N cấp ngày 07-07-2016 theo Hợp đồng thế chấp động sản số 01/2016/245162348/HĐTC ngày 18-07-2016 để bảo đảm Ngân hàng A thu hết nợ.
Đối với anh P là bị đơn trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa, sau khi thụ lý vụ án Tòa án tiến hành xác minh ngày 06-3-2020 thì được biết anh P có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Th, xã Th, huyện L, tỉnh N từ năm 2011, hiện nay anh P đã bỏ đi khỏi địa phương và không thông báo nên chính quyền địa phương không biết anh P đi đâu, làm gì. Để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và theo quy định của pháp luật nên trong suốt quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước khi mở phiên tòa hôm nay Tòa án đã tiến hành xác minh và niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật.
Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk R’lấp tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với anh P là bị đơn trong vụ án đã bỏ nhà đi khỏi địa phương nên Tòa án xác minh, niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật và xét xử vắng mặt là đúng pháp luật.
Về nội dung vụ án: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì hợp đồng tín dụng số 01/2016/3263356/HĐTD ngày 18-07-2016 giữa Ngân hàng A với anh P ký kết với nhau là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và không vi phạm điều cấm của pháp luật. Để hợp đồng tín dụng trên được bảo đảm thì anh P đã thế chấp tài sản là xe ô tô theo Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 004111 do Phòng Cảnh sát giao thông công an tỉnh N cấp ngày 07-07-2016 theo Hợp đồng thế chấp động sản số 01/2016/245162348/HĐTC ngày 18-07-2016 giữa Ngân hàng A với anh P, được công chứng vào hợp đồng thế chấp và có đăng ký thế chấp theo quy định của pháp luật. Như vậy, hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp đã nêu trên là hợp pháp theo đúng trình tự thủ tục quy định của pháp luật. anh P không thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng đã ký kết nên đã vi phạm các hợp đồng đối với Ngân hàng A.
Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng; khoản 1 Điều 275, Điều 280, khoản 1 Điều 317, khoản 1 Điều 318, Điều 322 và Điều 323 của Bộ luật dân sự, tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A. Buộc anh P phải thanh toán toàn bộ số nợ gốc và lãi, tổng số tiền phải trả là 555.911.459 đồng, (trong đó: Tiền gốc là 400.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 13-12-2019 là 155.911.459 đồng) và toàn bộ nợ lãi phát sinh được tính tiếp từ ngày 14-12-2019 theo hợp đồng tín dụng số 01/2016/3263356/HĐTD ngày 18-07-2016 cho đến khi trả hết nợ
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đối với anh P là bị đơn trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa, sau khi thụ lý vụ án Tòa án tiến hành xác minh ngày 06-3-2020 thì được biết anh P có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Th, xã Th, huyện L, tỉnh N từ năm 2011, hiện nay thì anh P đã bỏ đi khỏi địa phương và không thông báo nên chính quyền địa phương không biết anh P đi đâu, làm gì. Để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và theo quy định của pháp luật nên trong suốt quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước khi mở phiên tòa hôm nay Tòa án đã tiến hành xác minh và niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự, vì trong các giao dịch hợp đồng bằng văn bản (hợp đồng tín dụng số 01/2016/3263356/HĐTD ngày 18-07-2016 và hợp đồng thế chấp động sản số 01/2016/245162348/HĐTC ngày 18-07-2016) có ghi rõ ràng địa chỉ của anh P; theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 của Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án. “Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo địa chỉ được ghi trong giao dịch, hợp đồng bằng văn bản thì được coi là “đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở”. Trường hợp người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thay đổi nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong giao dịch, hợp đồng mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không đình chỉ việc giải quyết vụ án vì lý do không tống đạt được cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết: anh P là bị đơn trong vụ án có đăng ký hộ khẩu trường trú tại thôn Th, xã Th, huyện L, tỉnh N nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông là nơi bị đơn cư trú, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Về quan hệ pháp luật: Căn cứ yêu cầu khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật đang có tranh chấp yêu cầu Tòa án giải quyết là tranh chấp hợp đồng tín dụng (tranh chấp hợp đồng dân sự) quy định tại khoản 16 Điều 4 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[4]. Về nội dung vụ án: Xét nội dung khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu Toà án nhân dân huyện Đăk R’Lấp buộc anh P phải thanh toán toàn bộ số nợ gốc và lãi tổng số tiền phải trả là 555.911.459 đồng, (trong đó: Tiền gốc: 400.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 13-12-2019 là 155.911.459 đồng) và toàn bộ nợ lãi phát sinh được tính tiếp từ ngày 14-12-2019 theo hợp đồng tín dụng số 01/2016/3263356/HĐTD ngày 18-07-2016 cho đến khi trả hết nợ, Hội đồng xét xử xét thấy:
Hợp đồng tín dụng số 01/2016/3263356/HĐTD ngày 18-07-2016 giữa Ngân hàng A với anh P ký kết với nhau là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và không vi phạm điều cấm của pháp luật. Để hợp đồng tín dụng trên được bảo đảm thì anh P đã thế chấp tài sản là xe ô tô theo Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 004111 do Phòng Cảnh sát giao thông CA tỉnh N cấp ngày 07-07-2016 theo Hợp đồng thế chấp động sản số 01/2016/245162348/HĐTC ngày 18-07-2016 giữa Ngân hàng A với anh P, được công chứng vào hợp đồng thế chấp và có đăng ký thế chấp theo quy định của pháp luật. Như vậy, hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp đã nêu trên là hợp pháp theo đúng trình tự thủ tục quy định của pháp luật.
Trong thời gian thực hiện Hợp đồng tín dụng số 01/2016/3263356/HĐTD ngày 18-07-2016 thì anh P đã trả được 50.000.000đồng tiền gốc ngày 20-7-2017 và tiền lãi đã trả đến ngày 10-7-2017 là 54.818.750đồng, từ ngày 21-7-2017 cho đến nay anh Phong không thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền gốc và tiền lãi suất cho Ngân hàng A theo điều khoản đã được ký kết trong hợp đồng nên đã quá hạn trả nợ. Như vậy, anh P đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của hợp đồng tín dụng đối với Ngân hàng A, số liệu tính đến ngày 13-12-2019 tổng số tiền phải trả là 555.911.459 đồng, (trong đó: Tiền gốc là 400.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 13-12-2019 là 155.911.459 đồng) và toàn bộ nợ lãi phát sinh được tính tiếp từ ngày 14-12-2019 theo hợp đồng tín dụng số 01/2016/3263356/HĐTD ngày 18-07-2016 cho đến khi trả hết nợ.
[5]. Đối với anh P là bị đơn trong vụ án vắng mặt. Để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và theo quy định của pháp luật nên trong suốt quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước khi mở phiên tòa hôm nay Tòa án đã tiến hành xác minh và niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[6]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp tại phiên tòa là có căn cứ cần chấp nhận.
[7]. Từ những nhận định trên cho thấy Ngân hàng A yêu cầu Toà án Nhân dân huyện Đăk R’Lấp buộc anh P phải thanh toán toàn bộ nợ gốc và lãi, tổng số tiền phải trả là 555.911.459 đồng, (trong đó: Tiền gốc: 400.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 13-12-2019 là 155.911.459 đồng) và toàn bộ nợ lãi phát sinh được tính tiếp từ ngày 14-12-2019 theo hợp đồng tín dụng số 01/2016/3263356/HĐTD ngày 18-07-2016 cho đến khi trả hết nợ là có căn cứ cần chấp nhận.
Ngân hàng A phải trả lại cho anh P các tài sản bảo đảm tiền vay theo Hợp đồng thế chấp động sản số 01/2016/245162348/HĐTC ngày 18-07-2016 giữa Ngân hàng A với anh P ngay sau khi anh P thanh toán xong các khoản nợ cho Ngân hàng A.
Trường hợp anh P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng A có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp động sản số 01/2016/245162348/HĐTC ngày 18-07-2016 giữa Ngân hàng A với anh P để thu nợ. Khi xử lý tài sản thế chấp thì anh P được ưu tiên mua nếu có nhu cầu theo quy định của pháp luật.
[8]. Về án phí: Do yêu cầu của Ngân hàng A được chấp nhận toàn bộ nên buộc anh P phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật trên số tiền 555.911.459 đồng. Hoàn trả lại cho Ngân hàng A số tiền 10.000.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 91 của Luậ các tổ chức tín dụng; khoản 1 Điều 275, Điều 280, khoản 1 Điều 317, khoản 1 Điều 318, Điều 322 và Điều 323 của Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A đối với anh P.
Buộc anh P phải trả cho Ngân hàng A toàn bộ nợ gốc và lãi, tổng số tiền phải trả là 555.911.459 đồng, (trong đó: Tiền gốc: 400.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 13-12-2019 là 155.911.459 đồng) và toàn bộ nợ lãi phát sinh được tính tiếp từ ngày 14-12-2019 theo hợp đồng tín dụng số 01/2016/3263356/HĐTD ngày 18-07-2016 cho đến khi thanh toán xong nghĩa vụ trả nợ.
Ngân hàng A phải trả lại cho anh P các tài sản bảo đảm tiền vay theo Hợp đồng thế chấp động sản số 01/2016/245162348/HĐTC ngày 18-07-2016 giữa Ngân hàng A với anh P ngay sau khi anh P thanh toán xong các khoản nợ cho Ngân hàng A.
Trường hợp anh P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng A có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp động sản số 01/2016/245162348/HĐTC ngày 18-07-2016 giữa Ngân hàng A với anh P để thu nợ. Khi xử lý tài sản thế chấp thì anh P được ưu tiên mua nếu có nhu cầu theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: Buộc anh P phải nộp 26.236.458đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng A số tiền 10.000.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000116 ngày 21-02-2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện L, tỉnh N.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết bản án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh N; - VKSND huyện Đắk R’Lấp; - CC THADS huyện L; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã Ký) Đoàn Công Tài |