- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quang T phạm tội tội Mua bán trái phép chất ma túy. - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Tòa quyết gì? Tịch thu tiêu hủy: 04 phong bì niêm phong chất ma túy còn lại sau giám định; 01 túi xách giả da kẻ caro đã qua sử dụng; 01 ba lô màu đỏ đen đã qua sử dụng; 02 tập giấy cuốn thuốc là kích thước 02cm x 10cm; 02 tập giấy cuốn tẩu kích thước 01cm x 05cm; 01 máy cắt thảo mộc hình trụ …
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt
| toµ ¸n nh©n d©n huyÖnThuû Nguyªn thµnh phè h¶i phßng | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2019/HSST Ngày 28 - 03 - 2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Ngọc Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Công Hạ; nghề nghiệp: Cán bộ UBND xã
2. Bà Nguyễn Thị Lan Hương; nghề nghiệp: Giáo viên
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Thủy – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị
Hà – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 03 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 13/2019/HSST ngày 31tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2019/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2019/HSST-QĐ ngày 14 tháng 03 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Quang T, sinh ngày 03 tháng 06 năm 2001 (khi phạm tội 17 tuổi 02 tháng 26 ngày); nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Phường T, quận Hg, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Thôn 5, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quang C, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1973; chưa có vợ, con; chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19 tháng 9 năm 2018; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quang T: Bà Trương Thị H – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hải Phòng; có mặt
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Quang T: Chị Nguyễn Thị Tuyết M (chị ruột), sinh năm 1996; địa chỉ: Ngách 10, ngõ 5B, phường H, quận B, thành phố Hải Phòng; có mặt.
Người làm chứng:
- Anh Lý Văn H, sinh năm 1991, ở thôn 6, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Anh Đồng Xuân T, sinh năm 1993, ở xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Anh Tạ Trung K, sinh năm 2001 ở thôn 4, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 29/8/2018, Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện T kết hợp với Công an xã Đ làm nhiệm vụ tại khu vực Nhà văn hóa thôn 3, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng phát hiện Nguyễn Quang T có biểu hiện nghi vấn cất giấu trái phép chất ma túy. Quá trình kiểm tra thu giữ tại tay trái của T có 01 điều thuốc lá Thăng Long hút dở, dài 04 cm bên trong chứa thực vật khô vụn (nghi chất ma túy); trong túi giả da kẻ caro của T có 01 túi nilon màu nâu đỏ, kích thước 09 cm x 13 cm chứa thực vật khô vụn (nghi chất ma túy), 01 túi nilon kích thước 04 cm x 07 cm chứa thực vật khô vụn (nghi chất ma túy), 01 túi nilon kích thước 03 cm x 09 cm chứa 02 điếu thuốc lá tự cuốn dài 07 cm, đường kính 0,4 cm bên trong là thực vật khô vụn (nghi chất ma túy) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Huanel màu vàng, có số sim 0934.919.693 của T. Tại nơi kiểm tra bắt giữ T còn có các đối tượng: Phạm Bình D, sinh ngày 10/02/2001; Vũ Tuấn M, sinh ngày 14/12/2001; Nguyễn Văn H, sinh ngày 24/9/2001, đều ở xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng. Tổ công tác đã dẫn giải T, D, M, H cùng tang vật về trụ sở Công an xã Đ làm việc (bút lục số 21 - 24).
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Quang T thu giữ: tại giường ngủ của T có 01 túi ba lô màu đỏ đen bên trong có 01 túi nilon kích thước 18 cm x 25 cm chứa thực vật khô vụn (nghi chất ma túy); 05 điếu thuốc tự cuốn dài khoảng 10 cm bên trong là thực vật khô vụn (nghi chất ma túy); 02 tập giấy cuốn thuốc là kích thước 02 cm x 10 cm; 02 tập giấy cuốn tẩu kích thước 01cm x 05 cm; 01 máy cắt thảo mộc hình trụ cao 05 cm, đường kính bề mặt 05 cm; 50 vỏ túi nilon kích thước 05 cm x 07 cm; 01 bật lửa ga đã qua sử dụng; 01 que tre hình trụ dài 18 cm (bút lục số 13, 14).
Tại Bản Kết luận giám định số 467/KLGĐ(Đ6) ngày 04/9/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: “Thực vật khô vụn trong điếu thuốc là Thăng Long hút dở thu tại tay trái T là thuốc lá, không phải chất ma túy. Thực vật khô vụn bên trong túi nilon màu nâu đỏ kích thước 09 cm x 13 cm; 01 túi nilon kích thước 04 cm x 07 cm chứa thực vật khô vụn; 01 túi nilon kích thước 03 cm x 09 cm chứa 02 điếu thuốc lá tự cuốn dài 07cm thu trong túi của T có chất ma túy XLR-11N(4-fluoropentyl), có khối lượng 5,4465 gam. Thực vật khô vụn trong túi nilon kích thước 18 cm x 25 cm thu tại nơi ở của T có chất ma túy XLR-11N(4-fluoropentyl), có khối lượng 8,2505 gam. Thực vật khô vụn trong 05 điếu thuốc tự cuốn thu tại nơi ở của T có chất ma túy XLR-11N(4-fluoropentyl), có khối lượng 0,6952 gam” (bút lục số 43).
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Quang T khai: T thường sử dụng ma túy loại “cỏ Mỹ”, để có tiền mua ma túy sử dụng T nảy sinh ý định bán ma túy cho đối tượng nghiện khác để kiếm lời. Khoảng cuối tháng 7/2018, T mua của một người không quen biết trên mạng xã hội 500.000 đồng chất ma túy XLR-11N(4-fluoropentyl) loại “cỏ Mỹ”. Sau khi mua được ma túy, T mang về nơi ở của mình dùng máy nghiền nhỏ số ma túy rồi cuốn thành từng điếu để bán với giá 100.000 đồng/01 điếu. T thường giao dịch mua bán ma túy qua điện thoại, nhắn tin trên mạng xã hội Zalo, thỏa thuận số lượng ma túy mua bán, địa điểm cụ thể giao nhận ma túy. T đã bán ma túy nhiều lần cho nhiều người nhưng không nhớ chính xác thời gian, địa điểm, số lượng. T chỉ nhớ đã bán ma túy cho Lý Văn H, sinh năm 1991, ở thôn 6, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng 04 lần, cụ thể: Vào khoảng 13 giờ 45 phút ngày 16/7/2018, T bán cho Hà 01 điếu ma túy loại “cỏ Mỹ” với giá 100.000 đồng tại khu vực nhà Văn hóa thôn 6, xã Đ, huyện T; Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 02/8/2018, T tiếp tục bán cho Hà 01 điếu ma túy loại “cỏ Mỹ” với giá 100.000 đồng tại khu vực thôn 5, xã Đ, Thủy Nguyên; khoảng 16 giờ ngày 12/8/2018, T bán cho Hà 01 điếu ma túy loại “cỏ Mỹ” với giá 100.000 đồng tại khu vực thôn 1, xã Đ, huyện T; Khoảng 17 giờ ngày 19/8/2018, T bán cho Hà 01 điếu ma túy loại “cỏ Mỹ” với giá 100.000 đồng tại khu vực thôn 5, xã Đ, Thủy Nguyên.
Ngoài ra vào khoảng 16 giờ, ngày 05/8/2018, tại khu vực cây xăng thuộc thôn 7, xã Thủy Sơn, huyện T, Hải Phòng, T bán cho Đồng Xuân T, sinh năm 1993, ở xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng 04 điếu ma túy loại “cỏ Mỹ” với giá 400.000 đồng.
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 26/8/2018, tại khu vực gần nhà nghỉ Minh Thư, xã Đ, Thủy Nguyên, T bán cho Tạ Trung K, sinh năm 2001 ở thôn 4, xã Đ, huyện T 01 điếu ma túy loại “cỏ Mỹ” với giá 100.000 đồng.
Đến khoảng 20 giờ 30 phút ngày 29/8/2018, T mang theo túi giả da kẻ caro bên trong chứa ma túy “cỏ Mỹ” cùng với Phạm Bình D, Vũ Tuấn M, Nguyễn Văn H đến nhà văn hóa thôn 3, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng chơi. Tại đây, T lấy ma túy để sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện, thu giữ cùng vật chứng.
Tại Cơ quan điều tra, các đối tượng mua ma túy của Nguyễn Quang T gồm: Lý Văn H, Tạ Trung K và Đồng Xuân T khai nhận phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của T về việc mua bán trái phép chất ma túy như nội dung nêu trên.
Phạm Bình D, Vũ Tuấn M, Nguyễn Văn H khai: D, M, H đã cùng sử dụng ma túy với T. Tối ngày 29/8/2018, khi đang ngồi chơi tại nhà văn hóa thôn 3, xã Đ, huyện T thì chứng kiến T lấy ma túy “cỏ Mỹ” từ trong túi giả da T mang theo để sử dụng cho bản thân. Khi T đang chuẩn bị sử dụng thì bị lực lượng Công an bắt giữ.
Về vật chứng của vụ án: 04 phong bì niêm phong chất ma túy còn lại sau giám định; 01 túi xách giả da kẻ caro đã qua sử dụng; 01 ba lô màu đỏ đen đã qua sử dụng; 02 tập giấy cuốn thuốc là kích thước 02cm x 10cm; 02 tập giấy cuốn tẩu kích thước 01cm x 05cm; 01 máy cắt thảo mộc hình trụ cao 05cm, đường kính bề mặt 05cm; 50 vỏ túi nilon kích thước 05cm x 07cm; 01 bật lửa ga đã qua sử dụng; 01 que tre hình trụ dài 18cm; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Huanel màu vàng, có số sim 0934.919.693 của T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F5 có số sim 01669.776.732 của Tạ Trung K; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia có số sim 01656.508.956 của Lý Văn H, chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện T quản lý.
Tại Cáo trạng số 12/CT-VKSTN ngày 31 tháng 01 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng đã truy tố Nguyễn Quang T về tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Quang T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng đã nêu. Bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.
Kiểm sát viên sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T từ 7 (bảy) năm đến 8 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” , thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam là ngày 19 tháng 9 năm 2018. Ngoài ra, Kiểm sát viên còn đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và truy thu số tiền thu lợi bất chính đối với bị cáo, xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quang T không tranh luận về tội danh, điều luật, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Viện Kiểm sát đã truy tố truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo T mà chỉ nhấn mạnh tình tiết khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên, khả năng nhận thức còn hạn chế, sau khi phạm tội bị cáo đã tự thú hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Mặt khác, bố mẹ bị cáo ly hôn từ khi bị cáo còn rất nhỏ nên bị cáo không được hưởng sự giáo dục từ gia đình, nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội. Từ những phân tích nêu trên, người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt 6 năm tù. Về hình phạt bổ sung và xử lý vật chứng của vụ án, người bào chữa không tranh luận gì thêm.
Trong vụ án này, còn có đối tượng bán ma túy cho T, tài liệu điều tra không xác định được căn cước, lai lịch nên không có cơ sở điều tra. Đối với Lý Văn H, Tạ Trung K và Đồng Xuân T có hành vi mua ma túy của T để sử dụng; Phạm Bình D, Vũ Tuấn M, Nguyễn Văn H có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an huyện T đã xử lý hành chính là có căn cứ đúng pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Hành vi, quyết định tố tụng của thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Quang T tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung biên bản kiểm tra, xác minh tin báo, tố giác về tội phạm, phù hợp với Kết luận giám định số 478/KLGĐ (Đ6) ngày 04 tháng 9 năm 2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng, phù hợp với lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ kết luận: Do nghiện ma túy nên T nảy sinh ý định bán ma túy cho các đối tượng nghiện khác để kiếm lời. Khoảng cuối tháng 7/2018, T mua của một người không quen biết trên mạng xã hội 500.000 đồng chất ma túy XLR-11N(4-fluoropentyl) loại “cỏ Mỹ”. Sau khi mua được ma túy, T mang về nơi ở của mình dùng máy nghiền nhỏ số ma túy rồi cuốn thành từng điếu để bán với giá 100.000 đồng/01 điếu. T thường giao dịch mua bán ma túy qua điện thoại, nhắn tin trên mạng xã hội Zalo, thỏa thuận số lượng ma túy mua bán, địa điểm cụ thể giao nhận ma túy. T đã bán ma túy nhiều lần cho nhiều người nhưng không nhớ chính xác thời gian, địa điểm, số lượng. T chỉ nhớ đã bán ma túy cho Lý Văn H, sinh năm 1991, ở thôn 6, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng 04 lần, cụ thể: Vào khoảng 13 giờ 45 phút ngày 16/7/2018, T bán cho H 01 điếu ma túy loại “cỏ Mỹ” với giá 100.000 đồng tại khu vực nhà Văn hóa thôn 6, xã Đ, huyện T; Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 02/8/2018, T tiếp tục bán cho H 01 điếu ma túy loại “cỏ Mỹ” với giá 100.000 đồng tại khu vực thôn 5, xã Đ, Thủy Nguyên; khoảng 16 giờ ngày 12/8/2018, T bán cho H 01 điếu ma túy loại “cỏ Mỹ” với giá 100.000 đồng tại khu vực thôn 1, xã Đ, huyện T; Khoảng 17 giờ ngày 19/8/2018, T bán cho H 01 điếu ma túy loại “cỏ Mỹ” với giá 100.000 đồng tại khu vực thôn 5, xã Đ, Thủy Nguyên. Ngoài ra vào khoảng 16 giờ, ngày 05/8/2018, tại khu vực cây xăng thuộc thôn 7, xã S, huyện T, Hải Phòng, T bán cho Đồng Xuân T, sinh năm 1993, ở xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng 04 điếu ma túy loại “cỏ Mỹ” với giá 400.000 đồng. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 26/8/2018, tại khu vực gần nhà nghỉ M, xã Đ, Thủy Nguyên, T bán cho Tạ Trung K, sinh năm 2001 ở thôn 4, xã Đ, huyện T 01 điếu ma túy loại “cỏ Mỹ” với giá 100.000 đồng. Đến khoảng 20 giờ 30 phút ngày 29/8/2018, T mang theo túi giả da kẻ caro bên trong chứa ma túy “cỏ Mỹ” cùng với Phạm Bình D, Vũ Tuấn M, Nguyễn Văn H đến nhà văn hóa thôn 3, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng chơi. Tại đây, T lấy ma túy để sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện, thu giữ cùng vật chứng. T lượng ma túy thu giữ là 14,3922 gam, là ma túy loại XLR-11(4-fluroopentyl)
Hành vi của bị cáo vì vậy đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” vi phạm điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình như Cáo trạng đã truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.
. Tính chất của vụ án là rất nghiêm T, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, khả năng nhận thức và đặc điểm nhân thân bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi bị bắt đã tự thú hành viu mua bán trái phép chất ma túy. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên có thể xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo có hoàn cảnh gia đình đặc biệt, bố mẹ ly hôn từ khi bị cáo còn nhỏ, phải ở với bác, khi phạm tội và đến thời điểm xét xử bị cáo chưa đủ 18 tuổi, khả năng nhận thức còn hạn chế. Sau khi bị bắt bị cáo đã tự thú hành vi phạm tội và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Từ những phân tích và nhận định nêu trên và căn cứ nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội, Hội đồng xét xử thấy rằng có thể áp dụng khoản 1 Điều 54; Điều 91 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Việc xét xử chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh để trở thành công dân có ích cho xã hội và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và truy thu số tiền thu lợi bất chính. Xét bị cáo Nguyễn Quang T là người chưa thành niên phạm tội, không có tài sản riêng và không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: Hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên đang quản lý: 04 phong bì niêm phong chất ma túy còn lại sau giám định; 01 túi xách giả da kẻ caro đã qua sử dụng; 01 ba lô màu đỏ đen đã qua sử dụng; 02 tập giấy cuốn thuốc là kích thước 02cm x 10cm; 02 tập giấy cuốn tẩu kích thước 01cm x 05cm; 01 máy cắt thảo mộc hình trụ cao 05cm, đường kính bề mặt 05cm; 50 vỏ túi nilon kích thước 05cm x 07cm; 01 bật lửa ga đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Huanel màu vàng, có số sim 0934.919.693 của T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F5 có số sim 01669.776.732 của Tạ Trung Kiên; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia có số sim 01656.508.956 của Lý Văn Hà
Xét 01 điện thoại di động nhãn hiệu Huanel màu vàng, có số sim 0934.919.693 của T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F5 có số sim 01669.776.732 của Tạ Trung K; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia có số sim 01656.508.956 của Lý Văn H sử dụng để thực hiện tội phạm cần tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước. Các vật chứng còn lại là vật Nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật và được quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s, r khoản 1 Điều 51; Điều 91; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Nguyễn Quang T 6 (sáu) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19 tháng 9 năm 2018.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy: 04 phong bì niêm phong chất ma túy còn lại sau giám định; 01 túi xách giả da kẻ caro đã qua sử dụng; 01 ba lô màu đỏ đen đã qua sử dụng; 02 tập giấy cuốn thuốc là kích thước 02cm x 10cm; 02 tập giấy cuốn tẩu kích thước 01cm x 05cm; 01 máy cắt thảo mộc hình trụ cao 05cm, đường kính bề mặt 05cm; 50 vỏ túi nilon kích thước 05cm x 07cm; 01 bật lửa ga đã qua sử dụng;
- Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Huanel màu vàng, có số sim 0934.919.693 của T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F5 có số sim 01669.776.732 của Tạ Trung K; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia có số sim 01656.508.956 của Lý Văn H (Vật chứng có đặc điểm được mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 25 tháng 01 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, thành phố Hải Phòng (Các vËt chøng cã ®Æc ®iÓm ® îc m« t¶ t¹i biªn b¶n giao nhËn vËt chøng ngµy 25 th¸ng 01 n¨m 2019 cña Chi côc Thi hµnh ¸n d©n sù huyÖn Thuû Nguyªn, thµnh phè H¶i Phßng).
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm. thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; xử: Bị cáo Nguyễn Quang T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm (người đại diện cho bị cáo phải nộp thay).
Bị cáo, người đại diện cho bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND TP Hải Phòng; - VKSND TP Hải Phòng; - CATP Hải Phòng; - Sở Tư pháp TP HảiPhòng; - VKSND huyện T; - CA huyện T; - Chi cục THADS huyện T; - UBND xã (nơi bị cáo cư trú); - Bị cáo; người tham gia tố tụng; - Lưu: VT, hồ sơ, HCTP. c¸c héi thÈm nh©n d©n Phạm Công Hạ Nguyễn Thị Lan Hương c¸c héi thÈm nh©n d©n TrÇn H÷u V¨n NguyÔn ThÞ H ng N¬i nhËn: - VKS - KiÓm tra - BÞ c¸o - BÞ h¹i - C«ng an TP - L u HS - THA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lƣơng Ngọc Anh thÈm ph¸n chñ to¹ phiªn toµ L ¬ng Ngọc Anh thÈm ph¸n chñ to¹ phiªn toµ L ¬ng Ngoc Anh T/M Héi ®ång xÐt xö ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ Lª V¨n Trang |