vanban.org

Bản án 19/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 28/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Dương Ngọc Kh phạm tội "Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Dương Ngọc Kh 07 (bẩy) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Bị cáo được trừ số ngày tạm giữ, tạm giam (từ 28/12/2018 đến 17/01/2019) vào thời gian thụ hình. Phạt bổ sung đối với bị cáo 10.000.000 đồng sung công quỹ nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Ngọc Kh đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương Ngọc Kh phạm tội "Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠNG GIANG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2019/HSST
Ngày 28 tháng 3 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG

Với thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng

Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Đình Thìn; Ông Ngô Thanh Xuân

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: ông Nguyễn Văn Sang - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên toà: Ông Lê Đình Luyện - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/2019/HSST ngày 18 tháng 02 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Dương Ngọc Kh, Sinh năm: 1972. Tên gọi khác: Không. ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn GB, xã ĐM, huyện LG, tỉnh BG. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 5/10; Con ông: Dương Ngọc M, sinh năm: 1945 (đã chết); Con bà: Trần Thị H, sinh năm: 1947; Bị cáo có 5 anh, em, bản thân là thứ hai; Vợ: Nguyễn Thị Y, sinh năm: 1978. Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm: 2005.

- Nhân thân:

+ Bản án số 59 ngày 24/9/2012, Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang xử phạt 06 tháng tù về tội Đánh bạc (số tiền đánh bạc là 3.108.000đ).

+ Bản án số 32 ngày 25/4/2014, Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xử phạt 06 tháng tù về tội Đánh bạc (số tiền đánh bạc là 4.450.000đ).

- Tiền án: Bản án số 65 ngày 29/9/2015, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 27 tháng tù về tội Đánh bạc (số tiền đánh bạc là 5.150.000đ). Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/06/2017, chấp hành xong án phí và hình phạt bổ sung ngày 07/01/2016.

Tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2018 đến ngày 17/01/2019. Hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Đồng Thị Q, sinh năm: 1968 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn V, xã NghH, huyện LG, tỉnh BG

2. Nguyễn Đức L, sinh năm: 1968 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã TL, huyện LG, tỉnh BG

3. Đỗ Đức C, sinh năm: 1988 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn B, xã NghH, huyện LG, tỉnh BG

4. Đồng Thế T, sinh năm: 1980 (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn 2, xã AH, huyện LG, tỉnh BG

5. Bùi Đình T, sinh năm: 1984 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn H, xã NghH, huyện LG, tỉnh BG

6. Nguyễn Văn H, sinh năm: 1978 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn TL, xã NghH, huyện LG, tỉnh BG

7. Trần Đăng Tu, sinh năm: 1981 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã NghH, huyện LG, tỉnh BG

8. Đồng Khắc B, sinh năm: 1975 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn Vg, xã NghH, huyện L G, tỉnh BG

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 00 phút ngày 18/12/2018, Công an huyện Lạng Giang lập biên bản bắt người phạm tội quả tang tại gian nhà bếp và nhà chính của gia đình Đồng Thị Q, sinh năm 1968 ở thôn V, xã NghH, huyện LG, tỉnh BG các đối tượng đang có hành vi đánh bạc sát phạt tiền của nhau bằng hình thức chơi Sâm.

Tại chiếu bạc ở gian nhà bếp có các đối tượng gồm: Bùi Đình T, sinh năm 1984 ở thôn H, xã NgH, huyện LG; Dương Ngọc Kh, sinh năm 1972 ở thôn GB, xã ĐM, huyện LG; Đỗ Đức C, sinh năm 1988 ở thôn B, xã NghH, huyện LG và Nguyễn Đức L, sinh năm 1968 ở thôn T, xã TL, huyện LG.

Tại chiếu bạc ở nhà chính có các đối tượng gồm: Trần Đăng T, sinh năm 1981 ở thôn Đ, xã NghH, huyện LG; Đồng Khắc B, sinh năm 1975 ở thôn V, xã NgH, huyện LG và Nguyễn Văn H, sinh năm 1978 ở thôn TL, xã NghH, huyện LG.

Vật chứng thu giữ gồm:

- Tại chiếu bạc ở gian bếp: Thu giữ số tiền 1.520.000đ; 01 chiếu cói; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 cây bài.

- Tại chiếu bạc ở nhà chính: Thu giữ số tiền 2.550.000đ; 01 chiếu nhựa; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 cây bài.

Thu giữ trên người các đối tượng:

- Trần Đăng T: 01 điện thoại OPPO; số tiền 1.160.000đ. Tuân khai nhận trước khi đánh bạc có 1.500.000đ, nhưng chỉ bỏ ra 340.000đ để đánh bạc .

- Đồng Khắc B: 01 ví da màu nâu bên trong có 10.000đ và 01 chứng minh nhân dân (CMND); 01 điện thoại Iphone. Bằng khai trước khi đánh bạc có 910.000đ và bỏ ra 900.000đ để đánh bạc, số tiền đánh bạc để dưới chiếu bạc.

- Nguyễn Văn H: 01 điện thoại Nokia; 01 điện thoại Iphone và số 3.200.000đ. Hiệu khai trước khi đánh bạc có 3.600.000đ chỉ bỏ ra 400.000đ để đánh bạc, số tiền đó để dưới chiếu bạc.

- Dương Ngọc Kh: 01 ví da bên trong có 2.050.000đ; 01 điện thoại Samsung.

- Bùi Đình T: 01 ví da bên trong có 12.700.000đ; 01 điện thoại Samsung. Tuấn khai trước khi tham gia đánh bạc có 13.800.000đ chỉ bỏ ra 1.100.000đ để đánh bạc, tiền đánh bạc để dưới chiếu bạc.

- Nguyễn Đức L: 01 ví da bên trong có 2.050.000đ; 01 điện thoại Iphone. Luyến khai mang theo khoảng hơn 3.000.000đ nhưng chỉ bỏ ra 1.000.000đ để đánh bạc.

- Đỗ Đức C: 01 điện thoại Iphone cùng số tiền 2.480.000đ. Cảnh khai trước khi đánh bạc có 2.880.000đ nhưng chỉ bỏ ra 400.000đ để đánh bạc.

- Đồng Thế T: 01 điện thoại Nokia và 44.000đ. Tài không tham gia đánh bạc.

- Đồng Thị Q: tự nguyện giao nộp 3.500.000đ và khai nhận trong đó có 100.000đ thu lợi bất chính từ việc thu tiền hồ của các đối tượng.

Ngoài ra, khám xét khẩn cấp nhà Đồng Thị Q Cơ quan điều tra không thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Tại Cơ quan điều tra Dương Ngọc Kh và các đối tượng khai nhận: Khoảng 11 giờ trưa ngày 18/12/2018, T, C, L sau đó là H, Bg và Tu đến nhà Đồng Thị Q chơi và rủ nhau chơi đánh bạc, sát phạt tiền bằng hình thức chơi Sâm. Q đã đồng ý cho các đối tượng chơi đánh bạc ở nhà mình và thu tiền hồ. T, C, L xuống gian bếp; còn H, B và Tu đánh bạc ở gian nhà chính của gia đình Đồng Thị Q. Các đối tượng lấy chiếu và bài tú lơ khơ sẵn có ở nhà Q sử dụng đánh bạc. Đến khoảng gần 12 giờ trưa cùng ngày, Dương Ngọc Kh và Đồng Thế T đến nhà Q chơi và ngồi xem nhóm của L đánh bạc ở gian nhà bếp. Quá trình xem đánh bạc, L đứng dậy đi vệ sinh và nhờ Dương Ngọc Kh lên bài đánh bạc hộ. Kh đồng ý ngồi đánh bạc hộ L khoảng 03 ván (sử dụng tiền của L để đánh bạc). Sau khi đi vệ sinh L tiếp tục vào chơi bạc, còn Kh ngồi ngoài xem. Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày thì bị Công an huyện Lạng Giang bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng.

Hình thức các đối tượng đánh bạc là “Sâm”, cụ thể như sau: Người chơi sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 lá bài. Mỗi người chơi sẽ được chia 10 lá, người chơi lên bài và căn cứ bài của mình để quyết định có báo sâm hay không. Bài sâm quy định các lá bài từ nhỏ đến lớn như sau: 3, 4, 5…10, J, Q, K, A, 2. Có thể đánh đôi cùng màu (đôi ba, đôi bốn…), đánh bộ ba lá (ba lá 3, ba lá 4…), đánh dây không cùng đồng chất, đánh tứ quý hoặc đánh lẻ từng lá bài. Nếu có người chơi báo sâm thì người báo sâm được đánh trước, những người chơi còn lại theo vòng ngược chiều kim đồng hồ được quyền chặn sâm. Người chặn sâm không chặn được và để người báo sâm đánh hết bài thì người báo sâm sẽ thắng và được ăn tiền của những người chơi còn lại; nếu có người chơi chặn được lá bài người báo sâm thì người báo sâm phải đền sâm cho người chặn. Nếu không có ai báo sâm thì người chơi sẽ đánh theo vòng bắt đầu từ người chia bài. Ai đánh hết bài trước sẽ thắng, người thua đếm lá bài còn lại của mình quy ra tiền để trả người thắng. Hết ván chơi, người chơi vẫn còn 10 lá thì gọi là cháy, ai đánh lá bài 2 mà bị chặn tứ quý thì phải trả tiền cho người chặn theo thỏa thuận ban đầu. Ai thắng ván chơi sẽ là người chia bài và là người được quyền ưu tiên báo sâm hoặc đánh bài đầu tiên của ván tiếp theo. Quá trình ngồi đánh bạc các đối tượng thống nhất ai được bài sâm sẽ bỏ ra 20.000đ để đưa cho Q. Tổng cộng Qnhận được tiền hồ tại hai chiếu bạc là 100.000đ của các đối tượng đánh bạc tại nhà mình.

Quá trình điều tra xác định tổng số tiền thu giữ tại chiếu bạc ở gian nhà bếp là 1.580.000đ (gồm 1.520.000đ thu giữ tại chiếu bạc và 60.000đ tiền nộp cho Đồng Thị Q). Số tiền các đối tượng đánh bạc tại gian nhà bếp là: 2.590.000 đồng (gồm 2.550.000 đồng thu trên chiếu bạc và 40.000 đồng tiền nộp cho Đồng Thị Q).

Đối với Dương Ngọc Kh tham gia đánh bạc tại gian bếp, số tiền Kh và các đối tượng khác đánh bạc là 1.580.000 đồng, Kh có 01 tiền án về tội đánh bạc chưa được xóa án tích, nên hành vi của Kha đã bị khởi tố. Bản cáo trạng số 06/KSĐT ngày 02 tháng 01 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố bị cáo Dương Ngọc Kh về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 điều 321 của Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung.

Đối với các đối tượng khác có hành vi đánh bạc, nhưng chưa cấu thành tội phạm đã bị công an huyện Lạng Giang ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc. Đồng Thị Q bị UBND huyện Lạng Giang ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi dùng nhà của mình để chứa chấp, cho đánh bạc.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Dương Ngọc Kh phạm tội “Đánh bạc” và đề nghị:

Áp dụng khoản 1, khoản 3 điều 321, Điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi bổ sung, xử phạt bị cáo từ 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, bị cáo được trừ những ngày tạm giữ, tạm giam (Từ 18/12/2018 đến 17/01/2019) vào thời gian thụ hình. Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng sung công quỹ nhà nước.

Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 chiếu cói; 01 chiếu nhựa; 02 bộ bài tú lơ khơ mỗi bộ 52 lá bài.

Tịch thu sung công số tiền 4.170.000 đồng bị cáo Kh cùng các đối tượng sử dụng đánh bạc đã bị thu giữ.

Trả lại cho Dương Ngọc Kh các tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội gồm: 01 ví da màu đen, 01 điện thoại sam sung và số tiền 2.050.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Ngoài ra kiểm sát viên đề nghị về án phí hình sự đối với bị cáo, quyền kháng cáo của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Bị cáo Dương Ngọc Kh hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” là đúng, bị cáo không tranh luận gì. Xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa, Đồng Khắc B, anh Nguyễn Văn H đều khai nhận có tham gia đánh bạc và đã bị xử phạt hành chính. Anh H, anh B, anh T đều xác nhận đã được cơ quan điều tra trả lại tài sản, không có khiếu nại gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lạng Giang, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo Dương Ngọc Kh tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang do công an huyện Lạng Giang lập hồi 14 giờ ngày 18/12/2018 cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã được thẩm tra tại phiên tòa. Có đủ cơ sở xác định: Khoảng gần 12 giờ ngày 18/12/2018, Dương Ngọc Kh đến nhà Đồng Thị Q chơi, thấy có các đối tượng đang đánh bạc tại gian nhà bếp nên Kh đã vào xem, sau đó tham gia chơi thay cho Nguyễn Đức L 3 ván rồi tiếp tục ngồi xem, đến khoảng 14 giờ cùng ngày thì bị công an huyện Lạng Giang bắt quả tang. Số tiền Kh đánh bạc cùng với những người chơi khác xác định thu trên chiếu bạc là 1.520.000 đồng và thu số tiền Đồng Thị Q được các đối tượng đánh bạc nộp là 60.000 đồng.

Bị cáo Kh có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Số tiền bị cáo Kh cùng các đối tượng đánh bạc khác mặc dù chưa đến 5 triệu như định lượng, song do bị cáo có tiền án về tội đánh bạc tại bản án số 65/2015 ngày 29/9/2015 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xử phạt bị cáo 27 tháng tù về tội đánh bạc, đến nay chưa được xóa án tích. Do đó, hành vi của bị cáo Dương Ngọc Kh đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung. Khoản 1 điều 321 BLHS năm 2015 quy định: “1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại điều 322 của Bộ luật này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 nưm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm”. Như vậy, bị cáo Kh bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố theo điều, khoản, tội danh trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo là người lao động, nhưng không chịu làm ăn, tu dưỡng, đã nhiều lần có hành vi đánh bạc và bị xét xử về tội này.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 52 BLHS.

Tình tiết giản nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, xét xử bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được áp dụng các điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.

Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm lĩnh vực trật tự công cộng của nhà nước ta, hành vi của bị cáo cũng như của các đối tượng tham gia đánh bạc khác đã gây nhức nhối cho quần chúng nhân dân, bị cáo đã nhiều lần bị Tòa án xét xử về hành vi đánh bạc, đã bị phạt tù giam, mặc dù được cải tạo song bị cáo không rút ra bài học cho bản thân nên lần phạm tội này HĐXX xét cần thiết bắt bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục, bị cáo thành công dân sống có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 điều 321 của Bộ luật hình sự, HĐXX áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, phạt số tiền là 10.000.000 đồng để sung công quỹ nhà nước.

.Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Đối với các vật chứng gồm: 01 chiếu cói; 01 chiếu nhựa; 02 bộ bài tú lơ khơ mỗi bộ 52 lá bài các bị cáo sử dụng để đánh bạc cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với các tài sản của Dương Ngọc Kh bị thu giữ gồm: 01 ví da màu đen, 01 điện thoại sam sung và số tiền 2.050.000 đồng quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định không liên quan đến hành vi đánh bạc được trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với các vật chứng thu giữ là số tiền 100.000 đồng của Đồng Thị Q, xác định là tiền thu lợi bất chính từ đánh bạc nên tịch thu sung công quỹ.

Đối với số tiền 2.550.000 đồng bị thu giữ tại chiếu bạc trên nhà và 1.520.000 đồng thu tại chiếu bạc dưới bếp nhà chị Đồng Thị Q xác định là tiền các đối tượng đánh bạc cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

.Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Đối với Đồng Thị Q đã cho các đối tượng đánh bạc tại nhà để hưởng lợi bất chính số tiền 100.000 đồng, tuy nhiên hành vi của Đồng Thị Q chưa cấu thành tội “đánh bạc” hoặc “gá bạc”. Ngày 09/01/2019, Ủy ban nhân dân huyện Lạng Giang đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo đề nghị của Công an huyện Lạng Giang, với số tiền 7.500.000đ, HĐXX xét thấy là đúng pháp luật.

Đối với các đối tượng Bùi Đình T, Đỗ Đức C, Nguyễn Đức L, Nguyễn Văn H, Đồng Khắc B, Trần Đăng Tu có hành vi đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền. Tuy nhiên, số tiền thu giữ tại chiếu bạc và tiền chứng minh các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc chưa đủ cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định của Bộ luật hình sự. Ngày 08/01/2019, Công an huyện Lạng Giang đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng nêu trên. HĐXX xét thấy là phù hợp, đúng pháp luật.

Đối với số vật chứng thu giữ của các đối tượng tham gia đánh bạc tại nhà Đồng Thị Quy, xét hành vi của các đối tượng này không cấu thành tội phạm, đây là tài sản cá nhân của các đối tượng, không liên quan đến hành vi phạm tội, ngày 09/01/2019, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Bùi Đình T số tiền 12.700.000 đồng, 01 ví da màu nâu, 01 điện thoại Samsung; trả Đồng Khắc B 01 ví da màu nâu, 01 CMND, số tiền 10.000 đồng và 01 điện thoại Iphone; trả Trần Đăng Tu 01 điện thoại Oppo và số tiền 1.160.000 đồng; trả cho Nguyễn Đức L 01 ví da màu nâu, 01 điện thoại Iphone và số tiền 2.050.000 đồng; trả cho Đồng Thế T 01 ví da màu đen, 01 điện thoại Iphone, 01 điện thoại Nokia và số tiền 44.000 đồng; Trả cho Đồng Thị Q số tiền 3.400.000 đồng; Trả cho Nguyễn Văn H 01 điện thoại Nokia, 01 điện thoại Iphone và số tiền 3.200.000 đồng; Trả cho Đỗ Đức C 01 điện thoại Iphone và số tiền 2.480.000 đồng. HĐXX xét thấy việc trả lại tài sản trên là đúng quy định của pháp luật, không có ai có ý kiến gì, HĐXX không xem xét.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Dương Ngọc Kh phạm tội "Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1, khoản 3 điều 321, Điểm s khoản 12 điều 51; Điều 38; Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi bổ sung.

Căn cứ điều 3, điều 21; điểm a, c khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Căn cứ khoản 2 điều 106; điều 135, điều 136, điều 331, điều 332, điều 333, điều 336, điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Dương Ngọc Kh 07 (bẩy) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Bị cáo được trừ số ngày tạm giữ, tạm giam (từ 28/12/2018 đến 17/01/2019) vào thời gian thụ hình.

Phạt bổ sung đối với bị cáo 10.000.000 đồng sung công quỹ nhà nước.

*Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếu cói; 01 chiếu nhựa; 02 bộ bài tú lơ khơ mỗi bộ 52 lá bài các bị cáo sử dụng để đánh bạc.

Trả lại cho bị cáo Dương Ngọc Kh: 01 ví da màu đen, 01 điện thoại sam sung và số tiền 2.050.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 4.170.000 đồng bị cáo Kh cùng các đối tượng khác sử dụng đánh bạc, thu lời bất chính từ đánh bạc. Trong đó có: 100.000 đồng thu của Đồng Thị Q; 2.550.000 đồng thu tại chiếu bạc trên nhà Đồng Thị Q; 1.520.000 đồng thu tại chiếu bạc dưới bếp nhà Đồng Thị Q.

Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm.

Cỡ chữ