- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn T - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƢỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2019/HS-ST Ngày: 06 - 03 - 2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƢỚC
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn An
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Xuân Nhi và Ông Thạch Nhị
-Thư ký phiên tòa: Ông Đào Hùng Thái - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Đ.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Dũng - Kiểm sát viên
Ngày 06 tháng 03 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Đ mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 15/2019/TLST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2019/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:
Phạm Văn T (tên gọi khác: T Con), sinh năm 1997 tại Sóc Trăng; nơi cư trú ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Phạm Văn V (đã chết) và bà Tăng Thị M, sinh năm 1976; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/10/2018 cho đến nay “có mặt”.
Người bị hại:
Anh Võ Văn S, sinh năm 1999; nơi cư trú khu phố X, phường X, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước “vắng mặt”.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Hồ Đăng L, sinh năm 1996; nơi cư trú ấp P, xã H, huyện P, tỉnh Bình Phước “vắng mặt”.
Ông Võ Văn H (tên gọi khác: Hưởng), sinh năm 1977; nơi cư trú khu phố X, phường X, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước “vắng mặt”.
Bà Tăng Thị M, sinh năm 1976, nơi cư trú đội 02, ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Bình Phước “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 11/5/2018 anh Võ Văn S, sinh năm 1999, nơi cư trú khu phố X, phường X, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước điều khiển xe mô tô Honda Wave S màu đen bạc biển số 93F1-078.65 đến phòng trọ của Phạm Văn T, tại nhà trọ không tên thuộc khu phố M, phường P, thành phố Đ để chơi. Khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, Th (chưa rõ nhân thân, lai lịch) là bạn của T đến chơi cùng. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, T hỏi mượn chiếc xe mô tô Honda Wave S màu đen bạc biển số 93F1-078.65 của anh S để đi gặp bạn mượn tiền thì anh S đồng ý, lúc này Th xin đi cùng thì T đồng ý. Sau khi mượn được xe mô tô của anh S, trên đường đi Th rủ T mang xe của anh S đi cầm cố lấy tiền tiêu xài thì T đồng ý. T điều khiển xe mô tô Honda Wave S màu đen bạc biển số 93F1-078.65 chở Th đến quán lẩu dê “135” thuộc khu phố B, phường TB, thành phố Đ gặp Hồ Đăng L, sinh năm 1996, nơi cư trú ấp P, xã H, huyện P cầm cố với số tiền 3.500.000 đồng thì L đồng ý. Sau khi cầm cố được xe mô tô trên, Th giữ lại 2.000.000 đồng và đưa cho T 1.500.000 đồng tiêu xài hết. Ngày 24/10/2018 T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đầu thú khai nhận hành vi phạm tội.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 60/KLĐG ngày 05/6/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Thành phố Đ kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, biển số: 93F1-078.65, số khung: C521XCY16115, số máy: JC52E-4216667, còn hoạt động bình thường, đã qua sử dụng trị giá: 7.000.000 đồng.
Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Đ đã thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S biển số 93F1-078.65 màu đen bạc, số khung: C521XCY16115, số máy: JC52E-4216667. Ngày 02/8/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Võ Văn H.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Võ Văn S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn H không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.
Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKS-ĐX ngày 16/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đ truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn T mức án từ 09 đến 12 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Do bà Tăng Thị M là mẹ ruột của bị cáo Phạm Văn T đã bồi thường thay bị cáo số tiền 3.500.000 đồng cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hồ Đăng L; người bị hại anh Võ Văn S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn H đã nhận lại được tài sản bị cáo chiếm đoạt. Cả anh L, anh S và ông H không ai có yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Bị cáo Phạm Văn T tại phiên tòa đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đ, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng số 20/CT-VKS-ĐX ngày 16/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với kết luận điều tra, biên bản thu giữ tài sản; biên bản định giá tài sản, cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Thấy, phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm và phương thức thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng 17 giờ 30 phút ngày 11/5/2018 sau khi mượn chiếc xe mô tô Honda Wave S màu đen bạc biển số 93F1-078.65 của anh Võ Văn S đi công việc, Phạm Văn T đã cùng một người bạn tên Th (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đã đem cầm cố cho anh Hồ Đăng L để lấy số tiền 3.500.000 đồng chia nhau tiêu xài.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 60/KLĐG ngày 05/6/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Thành phố Đ kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, biển số: 93F1-078.65, số khung: C521XCY16115, số máy: JC52E-4216667, còn hoạt động bình thường, đã qua sử dụng trị giá: 7.000.000 đồng.
[3] Hành vi lợi dụng sự tin tưởng của chủ sở hữu trong việc giao tài sản để chiếm đoạt của bị cáo Phạm Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Điều 175 của Bộ luật Hình sự. Do tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị 7.000.000 đồng nên Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đ truy tố bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Bị cáo là người đã thành niên, khi phạm tội bị cáo hoàn toàn nhận thức được việc lợi dụng sự tin tưởng của chủ sở hữu trong việc giao tài sản để chiếm đoạt là hành vi phạm tội nhưng vì mục đích tiêu xài cá nhân mà bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người bị hại, là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
[5] Tuy nhiên xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, quá trình thẩm vấn công khai tại phiên tòa bị cáo đã ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã tự nguyện ra đầu thú khai nhận hành vi phạm tội. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, cần được xem xét trong việc lượng hình phạt đối với bị cáo.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng.
[7] Đối với đối tượng tên Th là người cùng với T thực hiện hành vi phạm tội, quá trình điều tra chưa xác minh được nhân thân, lai lịch do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ tách ra xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với anh Hồ Đăng L là người nhận cầm cố chiếc xe mô tô biển số 93F1-078.65 cho bị cáo nhưng anh L không biết tài sản này do bị cáo phạm tội mà có nên không đặt ra vấn đề xử lý.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Do bà Tăng Thị M là mẹ ruột của bị cáo Phạm Văn T đã bồi thường thay bị cáo số tiền 3.500.000 đồng cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hồ Đăng L; người bị hại anh Võ Văn S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn H đã nhận lại được tài sản bị cáo chiếm đoạt. Cả anh L, anh S và ông H không ai có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đ tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
2. Về hình phạt:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 24/10/2018.
3. Về trách nhiệm dân sự: Do các bên không ai có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Bị cáo T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
5. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước; - VKSND Thành phố Đ; - VKSND tỉnh Bình Phước; - Chi cục THADS Thành phố Đ; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước. - CA Thành phố Đ; - Phòng PV 06 (PV 27 cũ) Công an tỉnh BP; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS-VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Văn An |