vanban.org

Bản án 19/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương Tuyên án 10/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Hữu L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”

Xử phạt: Bị cáo Lê Hữu L 10 (Mười) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 15/01/2019. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "“Tàng trữ trái phép chất ma tuý” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Hữu L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH MIỆN
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2019/HS-ST
Ngày 10 - 5- 2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN – TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hà Xuân Trường.

Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Hoài và ông Triệu Duy Tỏi.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Nhàn – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện VKSND huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thủy và bà Nguyễn Thị Diên - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2019/TLST-HS ngày 18/4/2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2019/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2019 đối với:

- Bị cáo: LÊ HỮU L, sinh năm 1986; ĐKHKTT: Thôn T, xã M, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Lê Hữu H, sinh năm 1954; con bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1952; Tiền án, tiền sự: Không; Bị caó bị tạm giữ từ ngày 15/01/2019 đến ngày 18/01/2019 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Kim Chi, Công an tỉnh Hải Dương, có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1968 - Địa chỉ: Thôn Bằng Bộ, xã Cao Thắng, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương, vắng mặt.

Bà Vũ Thị T, sinh năm 1972 - Địa chỉ: Thôn Bằng Bộ, xã Cao Thắng, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Hữu L khai chiều ngày 15/01/2019 điều khiển xe ô tô BKS 89C- 03726, là xe L mượn của anh Lê Văn T, sinh năm 1980 (anh rể của L) ở thị trấn Ân Thi, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên đi giao hàng của cửa hàng máy nông - ngư- cơ Nhân Nga ở thị trấn Kẻ Sặt, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương cho các cửa hàng ở khu vực Hưng Yên, Thái Bình. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, L gặp Linh sinh năm 1978 người mới quen, không rõ họ tên, địa chỉ. Khi gặp L, Linh dẫn Liêm vào nhà nghỉ ở gần đó và thuê phòng nghỉ. Linh nói với L: “Anh có thằng bạn có nhiều đồ rẻ lắm, có mua không? L hiểu ý của Linh nói là bạn Linh có bán ma túy với giá rẻ, L đồng ý mua ma túy rồi đưa cho Linh số tiền 1.400.000đồng mục đích để sử dụng. Một lúc sau có một nam thanh niên khoảng gần 40 tuổi, không quen biết, không biết tên, tuổi, địa chỉ nhà ở đâu, đi vào phòng nghỉ và tự giới thiệu tên là Hùng có ma túy muốn bán, lúc này Linh đi ra ngoài chỉ còn Hùng và L ở trong phòng. Khi đang nói chuyện, Hùng đưa trước cho L 02 viên nén màu đỏ hồng (L khai nhận biết đó là hồng phiến), L cầm và dùng mảnh giấy bạc của vỏ bao thuốc lá gần đó gói lại rồi cất vào trong vỏ bao thuốc lá Craven màu đen - xám của Liêm để vào hốc để đồ khoang lái xe ô tô, rồi cùng Hùng ra về, mục đích về sử dụng. Hùng ngồi nhờ xe L đi đến khu vực cầu Tràng, thuộc địa phận huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên thì Hùng xuống xe và lên xe ô tô không nhớ biển kiểm soát. L điều khiển xe ô tô của L đi sau xe ô tô của Hùng đi theo đường quốc lộ 38B, hướng về xã Cao Thắng, huyện Thanh Miện - tỉnh Hải Dương, khi đến quán cơm Quyết - Thúy ở ven quốc lộ 38B, thuộc địa phận thôn Bằng Bộ, xã Cao Thắng, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Hùng đi vào trong quán cơm trước rồi dùng số điện thoại di động 0886.415.833 gọi vào số điện thoại di động 0979.237.998 của Liêm bảo đi vào quán. L đi vào quán và ngồi ở bàn uống nước với Hùng. L thấy Hùng để 01 bao thuốc lá Marlboro màu đỏ - trắng trên mặt bàn rồi đi ra ngoài và dùng số điện thoại di động của Hùng gọi lúc trước gọi vào số điện thoại di động của L và nói “Anh để ở bàn đấy”, Li hiểu ý của Hùng là để ma túy đá trong bao thuốc lá ở mặt bàn. L cầm bao thuốc lá bên trong có ma túy đã đặt mua của Hùng để ở bàn cất giấu vào túi quần phía trước bên phải đang mặc trên người rồi đi ra cửa quán. Khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, khi L định lên xe ô tô của mình đi về nhà thì bị lực lượng Công an huyện Thanh Miện phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của L đang mặc 01 vỏ bao thuốc lá Marlboro màu đỏ - trắng bên trong có 01 túi nilon màu trắng xanh kích thước khoảng (12,0 x 6,0)cm bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng và số tiền 6.780.000 đồng; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy Note 5, có sim số 0979237998; 01 điện thoại Iphone 5 bị vỡ màn hình; 01 xe ô tô màu trắng, nhãn hiệu Suzuki, gắn BKS 89C - 037.26 ; Thu giữ tại hốc để đồ trong khoang lái xe ô tô BKS 89C - 037.2601 vỏ bao thuốc lá Craven màu đen - xám bên trong có 01 gói giấy bạc kích thước khoảng (3,0x1,5)cm bên trong chứa 2 viên nén hình trụ tròn màu đỏ hồng đường kính khoảng 0,5cm; Số tiền 82.000.000 đồng; 01 đăng ký xe ô tô BKS 89C - 037.26; 01 giấy chứng nhận đăng kiểm xe ô tô BKS 89C - 037.26; 01 giấy chứng từ bán hàng của cửa hàng máy nông

- ngư - cơ Nhân Nga ở thị trấn Kẻ Sặt, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương; 01 giấy chứng từ bán hàng của cửa hàng Anh Tú ở đầu cầu Sặt, thôn Thịnh Vạn, xã Minh Đức, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.

Tại bản Kết luận giám định số 91/KLGĐ - PC09 ngày 18/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng niêm phong trong bì thư số 1 gửi giám định có khối lượng là 35,484g (Ba mươi lăm phẩy bốn trăm tám mươi bốn gam) là ma túy, loại Methamphetamine. Hai viên nén hình trụ màu đỏ niêm phong trong phong bì số 2 gửi đến giám định tổng khối lượng là 0,201g (Không phẩy hai trăm linh một gam) là ma túy, loại Methamphetamine nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ- CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Cáo trạng số 18/VKS-HS ngày 17-4-2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện truy tố bị cáo Lê Hữu L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, công nhận quyết định truy tố của VKSND huyện Thanh Miện là đúng và xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Hữu L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 và khoản 3 Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử phạt bị cáo Lê Hữu L từ 10 năm đến 10 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 15/01/2019. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại Iphone 5 bị vỡ màn hình, hư hỏng cảm ứng có gắn thẻ sim số Seri 89840200010693243776 và 01 điện thoại di động Sam sung Galaxy Note 5, có sim số 0979237998.

Tịch thu và tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá Craven màu đen - xám; 01 vỏ bao thuốc lá Marlbolo màu đỏ trắng; 01 phong bì thư màu trắng niêm phong mẫu vật số 91/KLGĐ - PC09 ngày 18/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương, bên trong chứa 34.546gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định.

Bị cáo Lê Hữu L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Điều tra viên và Cơ quan điều tra Công an huyện Thanh Miện; Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân huyện thanh Miện trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Lời khai của bị cáo Lê Hữu L tại phiên toà phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, phù hợp với kết quả giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 15/01/2019 tại khu vực đường quốc lộ 38B trước cửa quán cơm Quyết - Thúy thuộc địa phận thôn Bằng Bộ, xã Cao Thắng, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Lê Hữu L đang có hành vi cất giấu trái phép tại túi quần bên phải phía trước đang mặc vỏ bao thuốc lá Marlboro màu đỏ trắng bên trong có đựng 01 gói Methamphetamine có khối lượng là 35,484 gam và cất giấu trái phép tại hốc để đồ khoang lái xe ô tô BKS 89C- 037.2601 vỏ bao thuốc lá Craven màu đen xám bên trong đựng 02 viên nén hình trụ màu đỏ có khối lượng là 0,201gam Methamphetamine, tổng khối lượng Methamphetamine mà Liêm cất giấu là 35,685 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Miện bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện truy tố bị cáo Lê Hữu Liêm theo điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo Lê Hữu L là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người sử dụng mà còn là nguyên nhân dẫn đến tội phạm khác, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, nhưng vì mục đích thỏa mãn cơn nghiện cho bản thân và ý thức coi thường pháp luật, bị cáo vẫn cố ý phạm tội, do vậy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm đối với bị cáo.

Bị cáo Lê Hữu L không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự .Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn theo mức thấp của khung hình phạt cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời phục vụ công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

Quá trình điều tra không xác định được đối tượng đã bán ma túy cho Lê Hữu Liêm nên không có căn cứ xử lý.

Bị cáo Lê Hữu L mượn xe ô tô BKS 89C - 037.26 của anh Lê Văn T (anh rể của L) để đi chở hàng thuê, anh T không biết L sử dụng để đi mua ma tuý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Miện đã trả chiếc xe ô tô BKS 89C-037.26, đăng ký xe ô tô, giấy chứng nhận đăng kiểm xe ô tô cho anh T.

Số tiền 82.000.000 đồng là tiền của anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1970 ở số nhà 688, đường Long Hưng, phường Hoành Diệu, thành phố Thái Bình trả cho cửa hàng máy Nông - Ngư - Cơ Nhân Nga ở thị trấn Kẻ Sặt, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Miện đã trả số tiền trên cho chủ cửa hàng máy Nông - Ngư - Cơ Nhân Nga là anh Phạm Duy T, sinh năm 1977 ở số nhà 94 Trần Hưng Đạo, thị trấn Kẻ Sặt, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.

Số tiền 6.780.000 đồng là tiền của anh Vũ Đức K, sinh năm 1986 ở Chi Lăng Nam, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương trả cho cơ sở đồ gỗ Anh Tú. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Miện đã trả số tiền trên cho chủ cửa hàng đồ gỗ Anh Tú là anh Trần Văn T, sinh năm 1984 ở thôn Thịnh Vạn, xã Minh Đức, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 điện thoại di động Sam sung Galaxy Note 5, có sim số 0979237998 và 01điện thoại Iphone 5 bị vỡ màn hình, hư hỏng cảm ứng có gắn thẻ sim số Seri 89840200010693243776, bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội, cần trả lại cho bị cáo sử dụng.

Đối với 01 vỏ bao thuốc lá Craven màu đen - xám; 01 vỏ bao thuốc lá Marlbolo màu đỏ trắng; 01 phong bì thư màu trắng niêm phong mẫu vật số 91/KLGĐ - PC09 ngày 18/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương, bên trong chứa 34.546gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu và tiêu hủy

Đối với số điện thoại di động 0886.415.833 của Hùng dùng liên lạc với L, qua xác minh xác định được đăng ký thông tin chủ thuê bao là chị Phan Thị Ngần, sinh ngày 01/03/1971 ở thôn Hoàng Bồ, xã Lê Hồng, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Chị Ngần xác định không mua, đăng ký, sử dụng, cho tặng số điện thoại này, không biết Lê Hữu L nên không có căn cứ xử lý.

Đối với số điện thoại di động 0989731102 của Linh dùng liên lạc với với Liêm, qua xác minh được đăng ký thông tin chủ thuê bao là anh Trang Quốc Hùng, sinh năm 1985 ở Phường Long Hưng, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Anh Hùng khai khoảng năm 2015 anh làm nghề sửa xe ở thành phố Hồ Chí Minh có người khách đến sửa xe tên Linh mượn giấy chứng minh thư nhân dân đăng ký sim điện thoại số 0989.731.102. Sau đó anh Hùng về An Giang mở tiệm sửa xe từ năm 2015 và không liên lạc với Linh, nên không có căn cứ xử lý.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo Lê Hữu L không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về án phí: Bị cáo Lê Hữu L bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Hữu L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”

Xử phạt: Bị cáo Lê Hữu L 10 (Mười) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 15/01/2019.

2. Về xử lý vật chứng:

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại Iphone 5 bị vỡ màn hình, hư hỏng cảm ứng có gắn thẻ sim số Seri 89840200010693243776 và 01 điện thoại di động Sam sung Galaxy Note 5, có sim số 0979237998.

Tịch thu và tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá Craven màu đen - xám; 01 vỏ bao thuốc lá Marlbolo màu đỏ trắng; 01 phong bì thư màu trắng niêm phong mẫu vật số 91/KLGĐ - PC09 ngày 18/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương, bên trong chứa 34.546gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định.

(Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Miện, theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18/4/2019 giữa Công an huyện Thanh Miện và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Miện).

3. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Hữu L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo Lê Hữu L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ