vanban.org

Bản án 19/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu Tuyên án 12/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn E phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 06 (Sáu) tháng tù. Khấu trừ 03 (Ba) ngày tạm giữ, còn lại bị cáo phải chấp hành 05 (Năm) tháng 27 (Hai mươi bảy) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành hình phạt tù. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn E phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn E phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TAND HUYỆN TÂN UYÊN
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2019/HS-ST
Ngày 12/7/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Tuyết Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tăng Hồng Hải

Ông Lê Sỹ Chiến

- Thư ký phiên toà: Ông Giang Tiến Hiệp -Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên tham gia phiên toà: Bà Lò Thị Kẻo - Kiểm sát viên

Ngày 12 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2019/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2019/QĐXXST-HS ngày 02/7/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn E; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; sinh năm: 1987 tại Tân Uyên, Lai Châu; Nơi ĐKHKTT: Bản N, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Lào; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Lò Văn X, sinh năm 1955 và con bà Lò Thị N, sinh năm 1957; Gia đình bị cáo có 08 anh chị em, bị cáo là con thứ sáu trong gia đình; Vợ: Lò Thị T, sinh năm 1988; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2012.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/02/2019 đến ngày 25/02/2019 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng: Chị Lò Thị T, sinh năm 1988.

Địa chỉ: bản N, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu

Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Ngày 22/02/2019 bị cáo Lò Văn E đi xe khách từ nhà ở tại bản N, xã P, huyện T lên xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu chơi. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày bị cáo E đi về thì gặp một bé trai khoảng 09 tuổi, không rõ nhân thân lai lịch, E hỏi "Em có biết ở đây ai bán ma túy không?", bé trai trả lời "Có, anh đưa tiền đây em đi mua cho" nên E đưa 270.000đồng, trong đó 20.000đồng là tiền công, còn lại là để mua ma túy. Bé trai cầm 270.000đồng đi về hướng xã B, huyện T. Khoảng một lúc sau, bé trai quay lại đưa cho E 03 gói Heroin bỏ vào vỏ bao thuốc lá màu vàng, nhãn hiệu Thăng Long rồi cất vào trong túi áo ngực mà E đang mặc và đón xe khách đi về nhà. Về nhà, E trích một ít từ một gói trong 03 gói ra để sử dụng bằng hình thức hít. Sử dụng xong E gói lại như cũ và bỏ 03 gói Heroin vào vỏ bao thuốc lá như ban đầu, cất giấu trên đầu giường ngủ của mình không cho ai biết, mục đích để sử dụng dần. Đến ngày 22/02/2019, do E và vợ là Lò Thị T xảy ra mâu thuẫn cãi nhau dẫn đến xô sát nên quần chúng nhân dân đã báo Công an huyện Tân Uyên phối hợp Công an xã P đến nhà E để giải quyết. Trong quá trình làm việc, E nhận thức được hành vi tàng trữ ma túy của mình là vi phạm pháp luật nên đã tự giác giao nộp 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng nhãn hiệu Thăng Long bên trong có 03 gói Heroin mỗi gói đều được gói bằng các mảnh nilon màu hồng có tổng khối lượng là 0,15gam. Công an huyện Tân Uyên đã lập biên bản vụ việc và biên bản tiếp nhận người phạm tội tự thú đối với Lò Văn E về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định.

Tại biên bản niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu vật giám định và niêm phong vật chứng xác định: số chất bột khô màu trắng đục, vón cục thu giữ của Lò Văn E có tổng khối lượng 0,15gam.

Tại bản kết luận giám định số 123/GĐ - KTHS ngày 02 tháng 3 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lai Châu kết luận: Mẫu vật gửi đến giám định thu giữ của Lò Văn E là ma túy, loại: Heroine.(Không hoàn lại mẫu vật giám định).

Bản cáo trạng số 22/CT - VKS ngày 29/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên đã truy tố bị cáo Lò Văn E về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận điều tra và bản cáo trạng nêu trên.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1, 5 Điều 249; điểm s, r khoản 1 Điều 51, Điều 38; Điều 54 Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo E từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Lò Văn E không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên.

Tại lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Hồi 16 giờ 35 phút ngày 22/02/2019 tại bản N, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu bị cáo Lò Văn E có hành vi tàng trữ trái phép 0,15gam Heroin, mục đích để sử dụng cho bản thân. Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ của mình là vi phạm pháp luật nên đã tự giác giao nộp toàn bộ số Heroin tàng trữ cho Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Uyên.

Bị cáo Lò Văn E là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Ý thức được điều đó nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ 0,15 gam Heroin. Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định hành vi của bị cáo Lò Văn E đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán , vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy…, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm…

c, Heroin. Cocaine, Methamphetamine,...có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05 gam.

Vì vậy, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự; từ nhỏ được cha mẹ nuôi ăn học, đến hết lớp 12. Đến năm 2009 xây dựng gia đình và làm ăn sinh sống tại địa phương. Từ năm 2009 đến năm 2011 đi nghĩa vụ quân sự đóng quân tại Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lai Châu. Năm 2011 thì xuất ngũ trở về địa phương sinh sống.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tự thú ra hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế khó khăn nên bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên, cũng xem xét để bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại khoản 3 điều 54 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét thấy nguồn thu nhập của bị cáo thấp, không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

01 vỏ bao thuốc là Thăng Long màu vàng. Xét đây là vật chứng có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Những vấn đề liên quan:

Theo lời khai của bị cáo, bé trai khoảng 09 tuổi là người mua Heroin hộ bị cáo nhưng không rõ nhân thân, lai lịch nên chưa đủ cơ sở để xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 3 Điều 106; Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn E phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 06 (Sáu) tháng tù. Khấu trừ 03 (Ba) ngày tạm giữ, còn lại bị cáo phải chấp hành 05 (Năm) tháng 27 (Hai mươi bảy) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành hình phạt tù.

3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 08 giờ 30 phút ngày 24/6/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Tân Uyên).

4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ