- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Luyến - TTMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NINH BÌNH -------------------- Bản án số: 19 /2019/HS-ST Ngày: 8/3/2019 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hà Minh Lực. Các Hội thẩm nhân dân: - Ông: Nguyễn Văn Phiếu. - Ông: Lưu Danh Sử. dân huyện N. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên toà: Ông Đào Sỹ Kiều- Kiểm sát viên. Bình tiến hành mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 09/HS- ST ngày 24/1/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/QĐXXST-HS ngày 27/2/2019 đối với bị cáo: Họ và tên: Nguyễn Văn L - Sinh năm 1988; Tên gọi khác: Không. Nơi ở và ĐKNKTT: Thôn Y, xã N, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 03/12. Con ông: Nguyễn Văn L: Đã chết. Con bà: Đào Thị L Gia đình có 4 chị em, bị cáo là con thứ hai. 2015 Tiền án, tiền sự: Không. đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình. Bị cáo có mặt tại phiên tòa. Người làm chứng: Đinh Thanh T, Dương Đức B. Cả hai vắng mặt. | Ngày 08 tháng 3 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh |
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau;
Nguyễn Văn L là người nghiện ma túy. Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 27/11/2018, L đi nhờ xe máy của một người đàn ông không quen biết từ nhà đến khu vực Bệnh viện đa khoa huyện N, thị trấn N để tìm mua Heroine về sử dụng. Khi đi đến khu vực Bệnh viện Đa khoa huyện N thuộc phố Tân Nhất, thị trấn N, huyện N thì L xuống xe đi bộ và gặp một người nam giới (L không biết tên, tuổi, địa chỉ) đứng ở bên đường, L đến gần người nam giới và hỏi “Anh có hàng không bán cho em” - Ý L hỏi mua Heroine của người nam giới, người nam giới đồng ý và nói “Có, hai trăm một quả”. Nguyễn Văn L lấy 200.000 đồng đưa cho người nam giới, người nam giới cầm tiền rồi đưa lại cho L 01 gói Heroine được gói ngoài B giấy bạc màu vàng. L mở ra kiểm tra thấy đúng là Heroine thì L gói lại và cầm ở tay phải rồi đi bộ tìm chỗ để sử dụng. Khi L vừa đi được một đoạn thì gặp Tổ công tác Công an huyện N phối hợp với Công an thị trấn N đang tiến hành nhiệm vụ tuần tra. Do sợ bị phát hiện cất giấu Heroine trên người nên Nguyễn Văn L đã ném gói Heroine đang cầm trên tay phải xuống mặt đường chỗ L đứng thì bị Tổ công tác phát hiện bắt quả tang, yêu cầu L nhặt gói Heroine được gói ngoài B giấy bạc màu vàng lên kiểm tra thì thấy bên trong có chất bột dạng cục màu trắng, L khai nhận đó là gói Heroine của L vừa mua về nhằm mục đích sử dụng. Tổ công tác Công an huyện N đã tiến hành thu giữ 01 gói nhỏ được gói ngoài B giấy bạc mầu vàng bên trong có một ít chất bột dạng cục mầu trắng của Nguyễn Văn L, ngoài ra không thu giữ thêm đồ vật, tài sản gì khác.
Cân xác định trọng lượng chất bột dạng cục màu trắng chứa trong 01 gói nhỏ được gói ngoài B giấy bạc màu vàng thu giữ của Nguyễn Văn L có trọng lượng 0,16 gam ký hiệu M để gửi trưng cầu giám định về khối lượng và loại chất ma túy.
Tại bản kết luận giám định số 27/KLGĐ-PC09-MT ngày 29/11/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận:“Mẫu chất bột dạng cục mầu trắng ký hiệu M gửi giám định có khối lượng 0,1520 (không phẩy một nghìn năm trăm hai mươi) gam là ma túy, loại Heroine.
Hoàn lại đối tượng giám định gồm: 0,1201 (không phẩy một nghìn hai trăm linh một) gam Heroine còn lại và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong ban đầu, tất cả được niêm phong trong một phong bì ghi số 27/KLGĐ – PC09- GĐMT theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra Nguyễn Văn L đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Bản cáo trạng 09/CT - VKS ngày 22/1/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L - về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo L không có ý kiến và khiếu nại gì về
kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan
điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Văn L đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị Hội đồng xét xử , áp dụng:
- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù, thời hạn tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 27/11/2018.
Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo mua Heeroin không nhằm mục đích vụ lợi.
Về xử lý vật chứng đã thu giữ: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: tịch thu tiêu hủy 0,1201 (không phẩy một nghìn hai trăm linh một) gam Heroine còn lại và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong ban đầu, tất cả được niêm phong trong một phong bì ghi số 27/KLGĐ – PC09- GĐMT theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn L và người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng , người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2. Tại phiên toà bị cáo khai nhận, bản thân là người nghiện ma túy và không có nghề nghiệp ổn định, để có ma túy sử dụng, bị cáo đã đi mua ma túy về sử dụng. Lời khai của bị cáo là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng, và vật chứng đã thu giữ, phù hợp với bản kết luận giám định số 27/KLGĐ-PC09-MT ngày 29/11/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình.
Nhƣ vậy, đã có đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 27/11/2018, Nguyễn Văn L từ nhà đi đến khu vực Bệnh viện đa khoa huyện N, thị trấn N để tìm mua Heroine về sử dụng. L đã gặp và và hỏi mua ma túy của một người đàn ông không quen biết với giá 200.000 đồng, sau khi đưa tiền cho người nam giới, L cầm 01 gói Heroine được gói ngoài B giấy bạc màu vàng của người này và cầm ở tay phải rồi đi bộ tìm chỗ để sử dụng. Sau đó L bị Tổ công tác Công an huyện N phối hợp với Công an thị trấn N đang tiến hành nhiệm vụ tuần tra phát hiện bắt quả tang.
Hành vi tàng trữ trái phép 0,1520 gam ma túy, loại Heroine của bị cáo L nhằm mục đích sử dụng cho bản thân đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy được pháp luật bảo vệ ( quy định tại Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính Phủ quy định danh mục chất ma túy và tiền chất). Là một trong các nguyên nhân dẫn đến tội phạm và tệ nạn xã hội khác, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự . Bị cáo biết rõ tác hại của ma tuý ảnh hưởng đến sức khoẻ, kinh tế, và một trong những nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác, gây mất trật tự xã hội và cuộc sống bình yên của nhân dân.
Từ những quy định của Pháp luật hình sự, HĐXX, xác định đã có đủ cơ sở pháp lý, khẳng định: Hành vi, tội danh và các khoản, điều luật áp dụng tại bản cáo trạng, lời luận tội, các chứng cứ buộc tội bị cáo như Kiểm sát viên trình bày tại phiên toà là có căn cứ pháp luật. Vì vậy Hội đồng xét xử kết luận: Hành vi mà bị cáo thực hiện đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.
Trước khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử đã căn cứ vào quy định của pháp luật hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự .
Bị cáo có nhân thân xấu vào ngày 28/6/2013 Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình xử phạt 6 tháng tù về tội“ trộm cắp tài sản ” nhưng bị cáo không chịu rèn L, sửa chữa mà tiếp tục vi phạm pháp luật cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt, tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tạo điều kiện cho bị cáo rèn L, cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Bị cáo được giảm một phần hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo vì bị cáo là người nghiện ma túy mua Heroine với mục đích sử dụng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS : tịch thu tiêu hủy 0,1201 (không phẩy một nghìn hai trăm linh một) gam Heroine còn lại và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong ban đầu, tất cả được niêm phong trong một phong bì ghi số 27/KLGĐ – PC09- GĐMT theo quy định của pháp luật.
3. Các vấn đề khác.Trong vụ án này, quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ của người đã bán Heroine cho Nguyễn Văn L nên không đủ căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.
4.Về án phí HSST: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015: Xử phạt Nguyễn Văn L 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 27/11/2018.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; tịch thu tiêu hủy 0,1201 (không phẩy một nghìn hai trăm linh một) gam Heroine còn lại và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong ban đầu, tất cả được niêm phong trong một phong bì niêm phong cũ ghi số 27/KLGĐ – PC09- GĐMT theo quy định của pháp luật (tình trạng cụ thể như biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/1/2019 giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện N và Công an huyện N).
Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn L phải nộp là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm).
Án xử công khai sơ thẩm bị cáo Nguyễn Văn L được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh NB.
Thẩm phán - Chủ tọa phiên Tòa
- Công an huyện N.
(Đã ký)
- VKSND huyện N.
- THADS huyện N.
- Thi hành án hình sự.
- Bị cáo.
- Thông báo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú.
Hà Minh Lực
- Lưu HS./.VP. HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Khắc Nghĩa -Lƣu Danh Sử
Hà Minh Lực
| Nơi nhận: - TAND tỉnh NB. - Công an huyện NQ. - VKSND huyện NQ. THADS huyện NQ. - Thi hành án hình sự. - Bị cáo. - Thông báo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú. - Lưu HS./.VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên Tòa Hà Minh Lực |