vanban.org

Bản án 19/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện M'Drăk, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 26/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Giao bị cáo Lê Văn T cho Ủy ban nhân dân thị trấn M’Đrắk, huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk giáo dục bị cáo cải tạo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sun…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN M’ĐRĂK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐĂK LĂK
Bản án số: 19/2019/HS-ST
ngày 26 - 8 - 2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M’ĐRĂK, TỈNH ĐẮK LẮK

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Thế Dương.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Y Đo Niê, ông Vũ Văn Kim.

-

Thư ký phiên tòa: ông Vũ Văn Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên toà: ông Cao Văn Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2019 tại hội trường Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh

Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2019/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2019/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:

Lê Văn T sinh ngày 12/11/1985, tại huyện Đ, tỉnh T. Nơi cư trú: tổ dân phố số

12, thị trấn M, huyện M, tỉnh Đ; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị D sinh năm 1950, trú tại tổ dân phố 12, thị trấn M, huyện M, tỉnh Đ; Tiền án, tiền sự: Ngày 03/11/2015 bị Toà án nhân dân huyện M'Đrăk xử phạt 5.000.000 đồng về tội Đánh bạc, đương nhiên đã được xoá án tích. Bị cáo đang tại ngoại, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Những người tham gia tố tụng khác:

-

Người bị hại: Công ty Cổ phần truyền hình cáp NTH. Địa chỉ: số 39, T,

phường T, thành phố B, tỉnh Đ. Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Thanh H1 sinh năm 1971. Địa chỉ: số 20 Đặng Thai M, phường T, thành phố B, tỉnh Đ. Vắng mặt.

-

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Hợp tác xã Quyết T. Địa chỉ:

Km49, Quốc lộ 26, xã E, huyện K, tỉnh Đ. Đại diện theo ủy quyền ông Phạm Văn V sinh năm 1959, địa chỉ: thôn L, xã H, huyện K, tỉnh Đ. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 13 giờ 10 phút ngày 15/4/2019 Lê Văn T điều khiển xe ô tô buýt biển

kiểm soát (BKS) 79B-015.22 trên đường quốc lộ 26 theo hướng từ xã Cư Mta, huyện M'Drắk đến thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk. Gần đến Km 69, ông Nguyễn Thanh H1 điều khiển xe ô tô BKS 43A-555.77 vượt xe ô tô buýt do T điều khiển. Đến Km 69+400 (thuộc thôn 3, xã Krông Jing, huyện M'Đrắk), một xe ô tô tải chạy ngược chiều đến, 02 chiếc xe ô tô đi cùng chiều phía trước xe ông H1 giảm tốc độ, ông H1 đạp phanh để giảm tốc độ của xe. T điều khiển xe ô tô với vận tốc khoảng 58 Km/giờ cũng đạp phanh để giảm tốc độ, nhưng do khoảng cách giữa hai xe quá gần (khoảng 10m - 12m) nên xe ô tô buýt do T điều khiển đã đâm vào phần đuôi xe ô tô do ông H1 đang điều khiển, hậu quả hai xe ô tô bị hư hỏng.

Tại kết quả giám định số 207/KQGD ngày 04/5/2019 của Trung tâm đăng kiểm

xe cơ giới 47-03D, xe ô tô BKS: 43A-555.77 sau tai nạn bị hư hỏng: Cản sau và khung xương cản sau móp méo, cốp sau móp méo bong tróc sơn, cánh gió carbon trên cốp sau trầy xước, ốp xi phía sau bên trên biển số bị gãy, lô gô chữ Maserati trên cốp bị trầy xước, cảm biến đậu xe không hoạt động.

Tại kết luận định giá tài sản số 19/KL-HĐĐG ngày 23/4/2019 của Hội đồng

định giá huyện M’Đrăk kết luận: Chi phí thay thế, sửa chữa phụ tùng xe ô tô BKS 43A-555.77 có tổng giá trị là 323.108.000 đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐĐG ngày 15/5/2019 của Hội đồng

định giá tài sản huyện M'Đrắk kết luận: Chi phí sửa chữa một số bộ phận xe ô tô buýt BKS 79B-015.22 nhãn hiệu SAMCO là: 2.640.000 đồng.

Qua công tác khám nghiệm hiện trường thể hiện:

Hiện trường nơi xảy ra tai nạn tại Km 69+400, Quốc lộ 26, địa phận thôn 3, xã

Krông Jing, huyện M'Đrắk, tỉnh Đắk Lắk. Đoạn đường thẳng, mặt đi tương đối bằng phẳng được trải nhựa bê tông rộng 5,80m. Trên mặt đường vạch kẻ sơn màu vàng đứt nét rộng 0,15m chia mặt đường thành hai chiều chạy riêng biệt. Từ tâm vạch kẻ đường đến mép đường bên phải theo hướng thành phố Buôn Ma Thuột đi thành phố Nha Trang là 2,95m. Hai bên đường là dải đất, có hành lang an toàn giao thông mỗi bên rộng 2m.

Chọn cột Km 69+400 Quốc lộ 26 nằm bên phải cách mép đường 1,5m theo

hướng thành phố Nha Trang đi thành phố Buôn Ma Thuột làm điểm mốc và chọn mép đường bên phải theo hướng thành phố Buôn Ma Thuột đi thành phố Nha Trang làm chuẩn để đo vị trí các dấu vết và phương tiện sau khi tai nạn xảy ra, xác định: Điểm va chạm đầu tiên giữa xe ô tô BKS 47 9B-015.22 và xe ô tô BKS 43A-555.77 tương ứng trên mặt đường được ký hiệu là A nằm trên phần đường bên phải theo hướng từ thành phố Nha Trang đi thành phố Buôn Ma Thuột. Đo từ A đến mép đường chuẩn dài 3,7m.

Vật chứng tạm giữ: giấy phép lái xe hạng E số 380075382077 ngày 29/11/2016

của sở Giao thông vận tải tỉnh Thanh Hóa cấp cho Lê Văn T; xe ô tô mang biển kiểm soát 43A-555.77, nhãn hiệu: MASERATI; xe ô tô buýt biển kiểm soát 79B-015.22, nhãn hiệu: SAMCO.

*

Tại bản cáo trạng số 22/CT-VKS ngày 07 tháng 8 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M’Đrăk truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 BLHS.

*

Kết quả xét hỏi, tại phiên tòa:

Bị cáo khai: bị cáo có giấy phép lái xe hạng E, bị cáo hợp đồng lái xe buýt cho

hợp tác xã Quyết Thắng. Khoảng 13 giờ 10 phút ngày 15/4/2019, bị cáo điều khiển xe ô tô buýt BKS 79B-015.22 trên đường quốc lộ 26 theo hường từ thành phố Nha Trang (Khánh Hòa) lên thành phố Buôn Ma Thuột (Đăk Lăk). Đến gần Km 69, ông H1điều khiển xe ô tô BKS 43A-555.77 vượt xe ô tô bị cáo đang điều khiển. Thấy 02 xe ô tô chạy cùng chiều phía trước giảm tốc độ để tránh xe ô tô chạy ngược chiều đến, ông H1giảm tốc độ xe, bị cáo cũng đạp phanh để giảm tốc độ nhưng do khoảng cách hai xe quá gần (khoảng 10m - 12m), bị cáo không kịp xử lý, xe ô tô buýt do bị cáo điều khiển đã đâm nhẹ vào phần đuôi xe ô tô do ông H1đang điều khiển.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn V khai: Hợp tác xã Quyết Thắng hợp đồng với bị cáo lái xe buýt với mức lương 2.150.000đồng/tháng (17 ngày). Ngày 15/4/2019, bị cáo gây tai nạn, xe buýt bị hư hỏng nhẹ, Hợp tác xã đã sửa chữa ô tô. Hợp tác xã đã bồi thường cho ông H1100.000.000đồng, hợp tác xã không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì cho hợp tác xã. Từ khi xảy ra tai nạn, bị cáo không lái xe cho hơp tác xã.

Quá trình điều tra, người đại diện theo pháp luật của Công ty Cổ phần truyền

hình cáp NTH là ông Nguyễn Thanh H1và người đại diện theo ủy quyền là bà Lê Thị Hoài T trình bày: Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo đã bồi thường 150.000.000 đồng; Hợp tác xã Quyết Thắng đã đã bồi thường 100.000.000đồng cho ông H1. Ông H1 không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm và có đơn xin bãi nại, đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

*

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M’Đrăk giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):

-Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

-Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 36 BLHS. Xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 12 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ.

-Áp dụng khoản 1 Điều 48 BLHS năm 2015; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS). Chấp nhận việc:

+ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M’Đrăk đã trả lại xe ô tô BKS 43A-555.77 và xe ô tô buýt BKS 79B-015.22 cho các chủ sở hữu.

+ Chấp nhận việc bị cáo và Hợp tác xã Quyết Thắng đã bồi thường cho Công ty Cổ phần truyền hình cáp NTH 250.000.000đồng.

-Trả lại cho bị cáo Lê Văn T Giấy phép lái xe số 380075382077.

* Bị cáo, đại diện cho hợp tác xã Quyết Thắng không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện

M’Đrắk, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M’Đrắk, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Bị cáo và các đương sự trong vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường và

các chứng cứ, tài liệu khác lưu hồ sơ vụ án. HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo có giấy phép lái xe theo quy định. Khoảng 13 giờ 10 giờ ngày 15/4/2019, bị cáo điều khiển xe ô tô buýt BKS 79B-015.22 trên đường quốc lộ 26 theo hướng thành phố Nha trang (tỉnh Khánh Hòa) đi thành phố Buôn Ma Thuột (tỉnh Đắk Lắk). Do không giữ khoảng cách an toàn với xe ô tô chạy cùng chiều phía trước, nên thấy ông H1 điều khiển xe ô tô BKS 43A-555.77 giảm tốc độ, bị cáo cũng đạp phanh để giảm tốc độ, nhưng do khoảng cách hai xe quá gần (khoảng 10m - 12m), bị cáo không kịp xử lý tình huống, xe ô tô buýt do bị cáo điều khiển đã va chạm vào phần đuôi xe ô tô do ông H1 điều khiển, gây tai nạn. Hành vi của bị cáo vi phạm vào khoản 1 Điều 12 của Luật giao thông đường bộ (Luật GTĐB).

Tại khoản 1 Điều 12 Luật GTĐB quy định: “Tốc độ xe và khoảng cách giữa các xe. 1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình; ở nơi có biển báo "Cự ly tối thiểu giữa hai xe" phải giữ khoảng cách không nhỏ hơn số ghi trên biển báo.”

Hành vi vi phạm Luật GTĐB của bị cáo đã gây thiệt hại về tài sản đối với xe ô tô BKS 43A-555.77 là 323.108.000 đồng và xe ô tô BKS 79B-015.22 là 2. 640.000 đồng, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 BLHS.

Tại điểm d khoản 1 Điều 260 BLHS quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn

giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

....

d) Gây thiệt hại tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.”

Xét tính chất vụ án, mức độ cũng như hậu quả do hành vi phạm tội của bị

cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo phải nhận thức được xe ô tô khi tham gia giao thông là nguồn nguy hiểm cao độ, người điều khiển xe phải tập trung quan sát, chấp hành nghiêm các quy định của Luật giao thông đường bộ, chủ động xử lý kịp thời các tình huống. Do không tuân thủ luật giao thông, bị cáo điều khiển xe ô tô không giữ khoảng cách an toàn, gây tai nạn làm thiệt hại tài sản của người khác. Nên, hành vi của bị cáo cần phải được xử lý bằng pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối

cải về hành vi phạm tội; bị cáo cùng với chủ xe buýt tự nguyện bồi thường cho người bị hại, được người bị hại làm đơn bãi nại và yêu cầu miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Xét thấy, bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng. Nên, không cần thiết phải bắt bị

cáo chấp hành hình phạt tù, HĐXX áp dụng Điều 36 BLHS để phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo, cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo. Theo Hợp đồng lao động được ký kết ngày 06/8/2017 giữa Hợp tác xã Quyết Thắng và bị cáo, thì mức lương chính của bị cáo là 2.150.000đồng/tháng, nên khấu trừ một phần thu nhập hàng tháng của bị cáo để sung quỹ nhà nước, cụ thể mỗi tháng là 200.000đồng [4] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

Sau tại nạn, bị cáo và Hợp tác xã Quyết Thắng đã thỏa thuận, tự nguyện bồi

thường cho đại diện Công ty Cổ phần truyền hình cáp NTH 250.000.000 đồng. Công ty không yêu cầu bồi thường gì thêm, Hợp tác xã Quyết Thắng không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì. Nên HĐXX, không xem xét về trách nhiệm dân sự.

Xe ô tô 43A-555.77 thuộc quyền sở hữu của Công ty cổ phần truyền hình cáp

NTH, xe ô tô buýt BKS: 79B-015.22 thuộc quyền sở hữu của Hợp tác xã Quyết Thắng. Nên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M’Đrăk đã trả xe ô tô cùng các giấy tờ về xe cho các chủ sở hữu là đúng pháp luật, HĐXX cần chấp nhận.

Giấy phép lái xe số 380075382077 ngày 29/11/2016 của sở Giao thông vận tải

tỉnh Thanh Hóa cấp cho Lê Văn T đang lưu giữ trong hồ sơ vụ án, cần trả lại cho bị cáo.

Về án phí: bị cáo bị kết án, bị cáo phải chịu tiền án phí Hình sự sơ thẩm. Vì

các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và

Điều 36 BLHS. Xử phạt bị cáo Lê Văn T 1 năm 6 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo T nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Khấu trừ một phần thu nhập hàng tháng của bị cáo T trong thời gian cải tạo không giam giữ để sung quỹ nhà nước, cụ thể mỗi tháng là 200.000đồng.

Giao bị cáo Lê Văn T cho Ủy ban nhân dân thị trấn M’Đrắk, huyện M’Đrắk,

tỉnh Đắk Lắk giáo dục bị cáo cải tạo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.

* Áp dụng Điều 48 BLHS, điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS:

-Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M’Đrăk đã trả lại: xe ô tô BKS 43A-555.77 và các giấy tờ về xe cho Công ty Cổ phần truyền hình cáp NTH; xe ô tô buýt BKS79B-015.22 và các giấy tờ về xe cho Hợp tác xã Quyết Thắng.

-Chấp nhận việc bị cáo Lê Văn T và Hợp tác xã Quyết Thắng đã bồi thường cho Công ty Cổ phần truyền hình cáp NTH 250.000.000đồng.

-Trả lại cho: bị cáo Lê Văn T Giấy phép lái xe số 380075382077 ngày 29/11/2016 của sở Giao thông vận tải tỉnh Thanh Hóa cấp cho Lê Văn T.

* Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

*Báo cho bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án

Hình sự sơ thẩm trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án Hình sự sơ thẩm trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ