- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Nghị định số 111/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN BỐ TRẠCH TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2019/HS-ST Ngày 13 - 3 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Châu Mạnh Cường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Đức Đào và bà Nguyễn Thuỳ Hương
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên toà: Ông Phan Mạnh Giang, Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 13 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2019/TLST- HS ngày 19/02/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2019/QĐXXST-HS ngày 01/3/2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh H, sinh ngày 13 tháng 4 năm 1989, tại huyện B, tỉnh Quảng Bình; Nơi cư trú: T1, thị trấn H, huyện B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1958 và bà Trịnh Thị X, sinh năm 1960; vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 2000, con: 02 đứa, lớn nhất 04 tuổi, nhỏ nhất 02 tuổi; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Tại Bản án số 76/2012/HSST ngày 07/6/2012 của Tòa án nhân dân huyện B xử phạt bị cáo 07 tháng tù giam về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Tại Bản án số 78/2014/HSST ngày 25/6/2014 củaToà án nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Bình xử 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 27/4/2017 bị UBND thị trấn H áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo Nghị định 111/2013/NĐ –CP. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện B từ ngày 11/12/2018 cho đến ngày 01/02/2019 được thay thế biện pháp “bảo lĩnh” theo quyết định số 05 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B. Toà án nhân dân huyện B ra quyết định số 01 bắt, tạm giam đối với bị cáo từ ngày 05/3/2019. Theo lệnh trích xuất bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 10 phút ngày 25/11/2018, trên tuyến đường QL 1A địa phận T1, thị trấn H, huyện B, tỉnh Quảng Bình tổ công tác thuộc lực lượng CSĐT tội phạm về ma tuý Công an huyện B phối hợp với công an thị trấn H , huyện B tiến hành kiểm tra và phát hiện trong túi quần bên trái của Nguyễn Thanh H đang cất giấu một gói ni long bên trong chứa 01 viên nén dạng thuốc tân dược màu hồng, có ký hiệu “WY”. Quá trình điều tra, Nguyễn Thanh H khai nhận, sáng ngày 25/11/2018, H đi xe taxi từ huyện B vào khu vực thị trấn Q, huyện Q gặp một thanh niên có biệt danh “Cu chó” không rõ tên thật và địa chỉ cụ thể để mua 03 viên ma tuý với số tiền 300.000 đồng, sau đó H về cất giấu ma tuý vào người và tiếp tục đi taxi đi về thành phố Đ. Trên đường đi, H lấy số viên ma tuý vừa mua được sử dụng hết 02 viên, còn 01 viên còn lại cất giấu vào túi quần bên trái, khi xuống nhà người quen ở thành phố Đ, H xuống xe taxi rồi ở lại thành phố Đ chơi, đến khoảng 15 giờ cùng ngày H đón xe buýt quay trở về nhà, khi đến T1, thị trấn H, huyện B thì bị lực lượng công an huyện B phát hiện lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật liên quan.
Tại kết luận giám định số 14/QĐ-PC 09 ngày 04/12/2018 của phòng kỷ thuật hình sự công an tỉnh Quảng Bình kết luận: “Mẫu ký hiệu A gửi giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 0,102 g. Methaphetamine nằm trong danh mục các chất ma tuý, số thứ tự 323, danh mục II, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ”.
Về vật chứng vụ án: Thu giữ tại Nguyễn Thanh H một gói ni long màu trắng bên trong chứa 01 viên nén dạng thuốc tân dược màu hồng, có ký hiệ chữ “WY”. Sau giám định được niêm phong bằng 01 bì thư dán kín, có số 14/GĐ-PC 09.
Bản Cáo trạng số: 20/CT-VKSBT ngày 18/02/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch truy tố bị cáo Nguyễn Thanh H vào “Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ Luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự 2015 xử tịch thu 01 phong bì thư được dán kín có số: 14/GĐ-PC 09, của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Hành vi của bị cáo vi phạm pháp luật hình sự, bị cáo rất ăn năn hối hận và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với tang vật vụ án đã thu giữ cũng như các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án và được tranh tụng tại phiên tòa. Do đó có đủ cơ sở xác định: khoảng 15 giờ ngày 25/11/2018 trên tuyến đường Quốc lộ 1A thuộc T1, thị trấn H, huyện B, tỉnh Quảng Bình, bị cáo Nguyễn Thanh H đang cất giấu trong trong túi quần bên trái của mình 01 viên có khối lượng 0,102g là chất ma tuý Methaphetamine để sử dụng thì bị lực lượng Công an huyện Bố Trạch phát hiện và bắt quả tang. Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 0,102g (không phẩy một trăm lẻ hai gam) là Methamphetamine, nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự: 323, Danh mục II, Nghị định số 73/2018/NĐ – CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo phạm vào “Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1, Điều 249 của Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi của bị cáo không những xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, mà còn ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an và an toàn xã hội, gây nên những hậu quả xấu về nhiều mặt, là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu năm 2012 đã bị Toà án nhân dân huyện B xử phạt 07 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, năm 2014 đã bị Toà án nhân dân huyện B xử phạt 09 tháng tù về tội cưỡng đoạt tài sản và tháng 4/2017 bị Uỷ ban nhân dân thị trấn H áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm, khắc phục sửa chữa mà lại tiếp tục phạm tội. Điều đó chứng tỏ bị cáo là người có ý thức coi thường pháp luật, sẵn sàng phạm tội khi có điều kiện, nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt trong khung hình phạt đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Nguyễn Thanh H là lao động tự do, thu nhập không ổn định, hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo không nhằm mục đích sinh lợi nên Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5, Điều 249 Bộ luật hình sự.
Liên quan đến vụ án còn có đối tượng tên “ cu Chó” là người bán ma tuý cho H sử dụng nhưng trong quá trình điều tra không xác định được họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự là phù hợp.
Về xử lý vật chứng: Số ma túy thu giữ tại bị cáo còn lại sau giám định được dán kín trong phong bì số: 14/GĐ-PC 09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình là loại thuộc Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Thanh H 12(mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam 07/3/2019, nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Bố Trạch từ ngày 11/12/2018 cho đến ngày 01/02/2019.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Thanh H
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ Luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư được dán kín có số: 14/GĐ-PC 09, của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình. Vật chứng nêu trên có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/3/2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
3. Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức án phí, lệ phí Tòa án xử: Buộc bị cáo Nguyễn Thanh H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 13/3/2019, có quyền kháng cáo bản án để xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Bình; - VKSND tỉnh Quảng Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình; - VKSND huyện Bố Trạch; - Công an huyện Bố Trạch; - Chi cục THADS huyện Bố Trạch; - Bị cáo; - UBND thị trấn H; - Lưu HSVA, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) Châu Mạnh Cường |