- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Y xin ly hôn anh Nguyễn Anh H"
- Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ XUYÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2019/HNGĐ-ST Ngày 09/8/2019 Về việc: “Chị Y xin ly hôn Anh H” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ XUYÊN
- Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Minh Đoan
2. Ông Trần Xuân Thanh
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Đặng Thị Thanh Huyền; Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên tham gia phiên
tòa: Ông Bùi Quốc Trưởng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09/8/2019 tại trụ sở TAND huyện Phú Xuyên đã xét xử công khai vụ án thụ lý số: 100/2019/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2019. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2019; giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1987
HKTT: Thôn Ngọ, xã Chuyên Mỹ, huyện Phú Xuyên, TP Hà Nội.
Tạm trú tại: Ấp Phước Tân, xã Tân Hưng, TP Bà Rịa, Bà Rịa-Vũng Tàu
Bị đơn : Anh Nguyễn Anh H, sinh năm 1980
HKTT: Thôn Ngọ, xã Chuyên Mỹ, huyện Phú Xuyên, TP Hà Nội.
Trú tại: Thôn An Khoái, xã Phúc Tiến, huyện Phú Xuyên, TP Hà Nội.
Chị Y có mặt, anh H vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn xin ly hôn ghi ngày 21/5/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án tại toà, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Y trình bày:
Chị Y và anh Nguyễn Anh H, tự nguyện kết hôn ngày 27/3/2006, đăng ký kết hôn tại UBND xã Chuyên Mỹ. Sau khi cưới, anh chị về chung sống với nhau và thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do không hợp tính, anh H ngược đãi đánh đập chị, nên chị buộc phải đi làm ăn xa và sống ly thân anh trong khoảng 05 năm trở lại đây. Nhận thấy, tình cảm không còn, hạnh phúc không còn, hôn nhân không thể hàn gắn được nên chị đề nghị được ly hôn anh H.
Về con chung: Anh chị có 02 cháu là Nguyễn Thiện Nhân, sinh ngày 15/3/2007 và Nguyễn Quốc Triệu, sinh ngày 24/7/2009. Hiện tại cả 02 cháu đang được anh H nuôi dưỡng. Chị Y đề nghị được nuôi dưỡng 01 cháu, trong trường hợp các cháu xin ở với bố, thì chị cũng chấp nhận để anh H nuôi dưỡng và đề nghị được cấp dưỡng nuôi con theo qui định của pháp luật.
Về tài sản chung, công nợ chung vợ chồng: Chị Y không yêu cầu Tòa xét.
Phía bị đơn, tại lời khai ngày 06/6/2019 anh Nguyễn Anh H trình bày:
Về hôn nhân: Anh H xác nhận việc anh H và chị Y kết hôn là tự nguyện và có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống có mâu thuẫn và chị Y đã từng 01 lần đưa đơn ra Tòa xin ly hôn, nhưng sau đó rút đơn về đoàn tụ. Tuy nhiên, chị Y lại bỏ đi một thời gian dài và ly thân anh, nay chị Y xin ly hôn, anh cũng nhận thấy tình cảm không còn, nên nhưng chỉ đồng ý ly hôn với điều kiện, chị Y phải thanh toán hết công nợ chung của 02 người khi còn sống chung.
Về con chung: Anh H xác nhận, vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thiện Nhân, sinh ngày 15/3/2007 và Nguyễn Quốc Triệu, sinh ngày 24/7/2009. Anh H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con. Về cấp dưỡng nuôi con anh nhường phần tự nguyện cho chị.
Về tài sản chung vợ chồng: Anh H không yêu cầu Tòa xét.
Về công nợ chung vợ chồng: Trong thời gian chị Y bỏ đi, anh phải vay tiền để nuôi con; ngoài ra còn nhiều khoản vay khác với tổng số tiền nợ khoảng 200.000.000 đồng và yêu cầu chị Y phải thanh toán hết công nợ chung.
Tại phiên tòa: Chị Y giữ nguyên quan điểm xin ly hôn; nhất trí giao cả 02 con chung cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng và tự nguyện cấp dưỡng nuôi con theo qui định của pháp luật. Anh H vắng mặt.
Đại diện VKSND huyện Phú Xuyên tham gia phiên toà phát biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các qui định về thủ tục tố tụng của Pháp luật TTDS trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tố tụng của mình. Bị đơn đã thực hiện nghĩa vụ tham gia tố tụng nhưng chưa đầy đủ. Đề nghị HĐXX, xét xử vụ án theo qui định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Y. Giao cả 02 con chung là cháu Nguyễn Thiện Nhân, sinh ngày 15/3/2007 và Nguyễn Quốc Triệu, sinh ngày 24/7/2009 cho anh Nguyễn Anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Y cấp dưỡng nuôi con chung với anh H 750.000đồng/tháng/01cháu. Không xét quan hệ tài sản chung, công nợ chung của vợ chồng. Chị Y phải chịu án phí ly hôn theo qui định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà. Trên cơ sở lời trình bày của đương sự và quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tại tòa, anh Nguyễn Anh H đã được triệu tập đến phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt, vì vậy, theo qui định tại điều 227, 228 Bộ luật TTDS, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh H.
Về Nội dung:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Y và anh Nguyễn Anh H có một cuộc hôn nhân tự nguyện và hợp pháp vào ngày 27/3/2006, thông qua việc đăng ký kết hôn tại UBND xã Chuyên Mỹ, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội. Sau khi làm lễ cưới theo phong tục tập quán ở địa phương, anh chị cùng về chung sống với nhau ngay. Quan hệ vợ chồng hòa thuận khoảng 4 – 5 năm thì phát sinh mâu thuẫn, phần do không hợp tính, phần do các bên thiếu lòng tin ở nhau nên không tìm được tiếng nói chung, hay xảy ra cãi đánh nhau, trước khi chính thức có đơn khởi kiện xin ly hôn, thì ít nhất có một lần chị Y đã gửi đơn đến Tòa với ý định xin ly hôn anh H, dù sau đó, chị Y có xin rút lại ý định của mình, song trên thực tế, các bên không trở lại đoàn tụ với nhau được, mà chị Y bỏ vào thành phố Bà Rịa Vũng Tàu sinh sống, bản thân anh H và chính quyền địa phương cũng xác nhận, anh chị đã ly thân nhau trong suốt gần 05 năm qua. Quá trình giải quyết việc kiện, tại Toà, chị Y, anh H thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn và đồng ý ly hôn chị Y. Xét mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng và kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần áp dụng các qui định tại điều 51, 56, 57 Luật HN và GĐ và điều 39 BLDS xử cho chị Y được ly hôn anh H là phù hợp.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung là các cháu Nguyễn Thiện Nhân, sinh ngày 15/3/2007 và Nguyễn Quốc Triệu, sinh ngày 24/7/2009. Hiện các cháu đang ở với anh H. Anh H, chị Y và bản thân các cháu đều có chung nguyện vọng là giao cả 02 con chung cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Sự tự nguyện của các bên là phù hợp với thực tế và có căn cứ pháp luật, Tòa chấp nhận
Về cấp dưỡng nuôi con: Tại bản khai ở Tòa án, anh H có quan điểm để chị Y được tự nguyện, phía chị Y cũng xin tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 750.000 đồng/01tháng/01 cháu. Xét sự tự nguyện của chị Y là phù hợp với qui định của pháp luật, Tòa chấp nhận.
Về tài sản chung vợ chồng: Các bên đều không yêu cầu Tòa xét nên Tòa không xét.
Riêng về công nợ chung vợ chồng: Chị Y không yêu cầu Tòa xét. Anh H yêu cầu Tòa giải quyết công nợ chung vợ chồng nhưng không trình bày cụ thể anh chị vay ai, vay bao nhiêu tiền, không làm đơn yêu cầu và cũng không giao nộp các tài liệu, chứng cứ theo quyết định của Tòa án để chứng minh cho yêu cầu của mình nên Tòa không có căn cứ để xem xét, giải quyết công nợ chung của vợ chồng anh H chị Y trong vụ án này. Trường hợp sau này nếu anh H có yêu cầu, thì Tòa án giành quyền khởi kiện cho anh H trong một việc kiện khác theo qui định của pháp luật
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Y xin tự nguyện chịu án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con theo qui định của pháp luật.
Bởi những nhận định trên
TOÀ QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Điều 39 BLDS; Khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật TTDS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội qui định về thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện chị Nguyễn Thị Y.
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Y được ly hôn anh Nguyễn Anh H
- Về con chung: Giao các con chung là cháu Nguyễn Thiện Nhân, sinh ngày 15/3/2007 và cháu Nguyễn Quốc Triệu, sinh ngày 24/7/2009, cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Chị Y cấp dưỡng nuôi con cho anh H 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi ngàn đồng)/01tháng/01 cháu, Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 8/2019 cho đến khi các cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Chị Y có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được ngăn cản.
- Về án phí: Chấp nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị Y xin chịu cả 300.000 đ (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn và 300.000 đ (ba trăm ngàn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con sơ thẩm. Chị Y được khấu trừ 300.000 đ (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí ly hôn đã nộp tại phiếu thu số 0005385 ngày 21/5/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên. Chị Y còn phải nộp 300.000 đ (ba trăm ngàn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.
Án xử công khai sơ thẩm, đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
| Nơi nhận: - TAND TP Hà Nội; - VKSND huyện - Chi cục thi hành án dân sự; - Sở Tư pháp - UBND xã Chuyên Mỹ - Các đương sự - Lưu hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Nguyễn Văn Quang |