vanban.org

Bản án 19/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lê Thị Kim T được ly hôn với anh Tiêu Văn T.

Về con chung, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau: Chị Lê Thị Kim T chịu trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng một người con chung tên là Tiêu Duy K (giới tính nam), sinh ngày 13 tháng 11 năm 2007. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Lê Thị Kim T không yêu cầu anh Tiêu Văn T cấp dưỡng nuôi con. An… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lê Thị Kim T được ly hôn với anh Tiêu Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH CÀ MAU
—————
Bản án số: 19/2019/HNGĐ-ST
Ngày 26-3-2019
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn My.

Bà Nguyễn Kim Huệ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Hậu - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 43/2019/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2019 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Kim T, sinh năm 1985 (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp Đ, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Tiêu Văn T, sinh năm 1984 (Xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Đ, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 13 tháng 02 năm 2019 cùng với các tài liệu kèm theo, chị Lê Thị Kim T trình bày: Chị và anh Tiêu Văn T kết hôn vào ngày 06/3/2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau. Sau thời gian chung sống thì giữa vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, cuộc sống hôn nhân không hòa hợp, tình cảm vợ chồng phai nhạt và vợ chồng không còn chung sống với nhau từ năm 2013 cho đến nay. Xét thấy hôn nhân không còn hạnh phúc, tình cảm giữa vợ chồng không thể hàn gắn được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Tiêu Văn T. Về con chung, có một người tên là Tiêu Duy K (giới tính nam), sinh ngày 13 tháng 11 năm 2007, hiện do chị nuôi dưỡng. Nay chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và chị không yêu cầu anh Tiêu Văn T phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 13 tháng 02 năm 2019 cùng các tài liệu kèm theo, anh Tiêu Văn T trình bày: Về thời gian kết hôn, có đăng ký kết hôn, mâu thuẫn xảy ra, nguyên nhân mâu thuẫn, thời gian không còn sống chung đúng như chị Lê Thị Kim T đã khai. Nay cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên anh đồng ý ly hôn với chị Lê Thị Kim T. Con chung có một người đúng như chị Lê Thị Kim T đã trình bày, anh đồng ý giao con chung cho chị Lê Thị Kim T nuôi dưỡng và anh không cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Về tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho chị Lê Thị Kim T ly hôn với anh Tiêu Văn T. Về con chung, giao một người con chung cho chị Lê Thị Kim T nuôi dưỡng, anh Tiêu Văn T không cấp dưỡng nuôi con. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, buộc chị Lê Thị Kim T phải chịu theo quy định chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Việc chị Lê Thị Kim T yêu cầu ly hôn anh Tiêu Văn T là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đồng thời, anh Tiêu Văn T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt anh Tiêu Văn T là có căn cứ.

Xét về hôn nhân, chị Lê Thị Kim T và anh Tiêu Văn T kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau vào ngày 06 tháng 3 năm 2006, nên hôn nhân giữa chị Lê Thị Kim T và anh Tiêu Văn T được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Xét về mâu thuẫn thì chị Lê Thị Kim T và anh Tiêu Văn T đều thừa nhận là quá trình chung sống giữa vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống chung, cuộc sống hôn nhân không hòa hợp, tình cảm vợ chồng phai nhạt. Chính vì cuộc sống chung không thể tiếp tục và hạnh phúc hôn nhân không đạt được nên chị Lê Thị Kim T yêu cầu ly hôn và được anh Tiêu Văn T đồng ý. Xét thấy, hôn nhân của chị Lê Thị Kim T và anh Tiêu Văn T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chính vì vậy, chấp nhận cho chị Lê Thị Kim T được ly hôn với anh Tiêu Văn T là có căn cứ.

Về con chung, có một người tên là Tiêu Duy K (giới tính nam), sinh ngày 13 tháng 11 năm 2007, hiện do chị Lê Thị Kim T nuôi dưỡng. Chị Lê Thị Kim T và anh Tiêu Văn T thống nhất thỏa thuận giao con chung cho chị Lê Thị Kim T tiếp tục nuôi và chị Lê Thị Kim T không yêu cầu anh Tiêu Văn T phải cấp dưỡng nuôi con. Sự thỏa thuận về người nuôi con và không cấp dưỡng nuôi con giữa chị Lê Thị Kim T và anh Tiêu Văn T là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với nguyện vọng của con chưa thành niên và đúng theo quy định tại các điều 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Từ đó, công nhận sự thỏa thuận về người nuôi con và không cấp dưỡng nuôi con giữa chị Lê Thị Kim T và anh Tiêu Văn T là có căn cứ.

Chị Lê Thị Kim T và anh Tiêu Văn T xác định tài sản chung và nợ chung không có nên không đặt ra xem xét.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Lê Thị Kim T chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Áp dụng các điều 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lê Thị Kim T được ly hôn với anh Tiêu Văn T.

2. Về con chung, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau: Chị Lê Thị Kim T chịu trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng một người con chung tên là Tiêu Duy K (giới tính nam), sinh ngày 13 tháng 11 năm 2007. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Lê Thị Kim T không yêu cầu anh Tiêu Văn T cấp dưỡng nuôi con.

Anh Tiêu Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chị Lê Thị Kim T phải chịu 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007486, ngày 13 tháng 02 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, chị Lê Thị Kim T đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Chị Lê Thị Kim T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Tiêu Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ