- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Ánh T và anh Phan Văn N.
- Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 145 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2019/HNGĐ-ST Ngày: 10-5-2019. v/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,
TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Thông Văn Đá.
2/Bà Phan Thị Nhâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Trinh – Thư ký tòa án của Tòa án
nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Ngày 10 tháng 5 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 27/2019/TLST-HNGĐ ngày 16/01/2019 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/4/2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2019/QĐST-HNGĐ ngày 25/4/2019, giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ánh T, sinh năm 1995. (Có mặt)
Nơi đăng ký HKTT: Thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
2/ Bị đơn: Anh Phan Văn N, sinh năm 1993. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại Đơn khởi kiện ngày 14/01/2019, bản tự khai và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Nguy n Thị Ánh T trình bày: Chị và anh Phan Văn N cưới nhau vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H. Việc cưới nhau là do hai bên tự nguyện, không bị ai ép buộc và được gia đình hai bên chấp nhận. Sau khi cưới vợ chồng sống cùng nhau tại thôn L, xã T. Vợ chồng sống với nhau hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do không cùng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng hay cãi nhau. Anh N thường xuyên chơi cờ bạc gây nợ nần. Ngoài ra anh N còn có quan hệ với nhiều người phụ nữ khác. Cách đây 02 năm, chị T có nộp đơn khởi kiện đến Tòa, anh N năn nỉ hứa sẽ thay đổi nên chị rút đơn khởi kiện. Tuy nhiên khi về chung sống thì anh N vẫn chứng nào tật nấy. Do không chịu đựng được nên vào tháng 11/2018, chị T đã dẫn con về nhà mẹ ruột tại thôn N, xã Đ sống đến nay. Trong thời gian không sống chung thì vợ chồng cũng không liên lạc với nhau để bàn bạc hàn gắn hạnh phúc. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa và nguyện vọng của chị là yêu cầu xin được ly hôn với anh Phan Văn N.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Phan Ngọc Thảo U , sinh ngày 28/4/2015.
Hiện nay con đang ở cùng chị T. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con. Chị T không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con vì chị đủ khả năng tự nuôi con.
- Về tài sản và nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, do anh Phan Văn N vắng mặt nên yêu cầu Tòa giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tòa án cùng chính quyền địa phương đã nhiều lần đến nhà anh Phan Văn N để tống đạt các văn bản tố tụng, anh N cố tình lẩn tránh, vắng mặt nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng như ghi lời khai, lập Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và Biên bản hòa giải nên Tòa xét xử vắng mặt đối với anh N theo qui định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Phan Văn N. Bị đơn có địa chỉ và sinh sống ở xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận, được pháp luật quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về tố tụng: Xét bị đơn anh Phan Văn N đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật, nhưng vẫn vắng mặt 02 lần tại phiên tòa không có lý do nên căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn anh Phan Văn N.
. Về nội dung:
+ Về hôn nhân: Hôn nhân của chị Nguyễn Thị Ánh T và anh Phan Văn N có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận theo giấy chứng nhận kết hôn số 95/2014, quyển số 01/2014 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, đây là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị T , Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong vụ án này chị T khai ra nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do không cùng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng hay cãi nhau. Anh N thường xuyên chơi cờ bạc gây nợ nần. Ngoài ra anh N còn có quan hệ với nhiều người phụ nữ khác. Cách đây 02 năm, chị T có nộp đơn khởi kiện đến Tòa, anh N năn nỉ hứa sẽ thay đổi nên chị rút đơn khởi kiện. Tuy nhiên khi về chung sống thì anh N vẫn chứng nào tật nấy. Do không chịu đựng được nên vào tháng 11/2018, chị T đã dẫn con về nhà mẹ ruột tại thôn N, xã Đ sống đến nay. Trong thời gian không sống chung thì vợ chồng cũng không liên lạc với nhau để bàn bạc hàn gắn hạnh phúc. Xét mâu thuẫn của chị T và anh N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, thể hiện qua việc khi Tòa án thông báo về yêu cầu ly hôn của chị T thì anh N không có ý kiến hay động tác gì để hàn gắn mà bỏ mặc; khi Tòa án tổ chức hòa giải đoàn tụ thì anh N vắng mặt không tham dự. Việc anh N không có ý kiến khi chị T xin ly hôn, không tham dự phiên hòa giải, phiên tòa vừa vi phạm nghĩa vụ bị đơn vừa đánh mất cơ hội hòa giải đoàn tụ tại Tòa án. Chứng tỏ, anh N không có thiện chí hòa giải tình cảm để hàn gắn quan hệ vợ chồng với chị T , mâu thuẫn vợ chồng của anh, chị không được cải thiện, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T .
+ Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Phan Ngọc Thảo U , sinh ngày 28/4/2015. Hiện nay con đang sống cùng chị T .
Khi ly hôn, chị T yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh N cấp dưỡng vì chị đủ khả năng để nuôi con.
Xét yêu cầu của chị T Hội đồng xét xử thấy rằng: Cháu U còn nhỏ chưa đủ tuổi để hỏi nguyện vọng, cháu U từ khi sinh ra đến nay chị T là người trực tiếp nuôi dưỡng và trong thời gian qua chị T nuôi dưỡng con tốt. Việc chị T yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
+ Về tài sản: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
+ Về nợ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ánh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Anh Phan Văn N không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 70, Điều 143, Điều 144, Điều 145, Điều 146, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Ánh T và anh Phan Văn N.
2. Về con chung: Giao con chung tên Phan Ngọc Thảo U , sinh ngày 28/4/2015 cho chị Nguyễn Thị Ánh T trực tiếp nuôi dưỡng.
Về mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng: Anh Phan Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Phan Văn N được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
3. Về tài sản và nợ: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ánh T phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Chị Nguyễn Thị Ánh T đã nộp đủ 300.000đ theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0026370 ngày 16 tháng 01 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Bình Thuận, nên không phải nộp nữa.
Anh Phan Văn N không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Quyền kháng cáo của chị Nguyễn Thị Ánh T là 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án (ngày 10/5/2019).
Riêng anh Phan Văn N vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai tại địa phương.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận. - Viện kiểm sát nhân dân huyện H. - Thi hành án dân sự huyện H. - Các đương sự. - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên Tòa Nguyễn Thị Tâm |