- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự xử chị Nguyễn Thị H; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xử chị Nguyễn Thị H; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử chị Nguyễn Thị H
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HOÁ TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2019/DS-ST Ngày: 15/8/2019 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Toàn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Thiện
2. Bà Nguyễn Thị Minh Hoa
Thư ký phiên toà: Ông Đinh Quang Vịnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa Huệ - Kiểm sát viên
Trong ngày 15 tháng 8 năm 2019, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 22/2019/TLST - HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2019 về việc “ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2019/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1994
Nơi ĐKNKTT: Thôn T, xã S, huyện T, Quảng Bình
Nơi cư trú: Số nhà 144 đường N, khu 2 thị trấn A, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam “có mặt”
Bị đơn: Anh Đinh Văn T, sinh năm 1992
Nơi ĐKNKTT: Thôn T, xã S, huyện T, Quảng Bình “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn ngày 18/02/2019, tại bản tự khai ngày 20/3/2019 và tại phiên tòa chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị và anh Đinh Văn T tìm hiểu, kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, hai người đăng ký kết hôn tại UBND xã S vào ngày 04/02/2015. Bước đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, được một thời gian ngắn thì xảy ra nhiều mâu thuẫn vì không hợp tính nhau, không cùng chung quan điểm sống, giữa vợ chồng thiếu tin tưởng nhau. Đến tháng 5 năm 2015 thì hai người sống ly thân cho đến nay, trong thời gian sống ly thân cả hai không liên lạc với nhau, hiện nay tình cảm vợ chồng không còn nên nguyện vọng của chị xin được ly hôn.
Về con chung của vợ chồng: Hai người không có con chung với nhau.
Về tài sản chung của vợ chồng: Hai người không có tài sản chung, không có nợ chung.
Toà án nhân dân huyện Tuyên Hoá đã thụ lý vụ án và tiến hành giải quyết vụ án và tạo điều kiện để các bên cung cấp chứng cứ. Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng chỉ có mặt chị Nguyễn Thị H vắng mặt anh Đinh Văn T nên không tiến hành hòa giải được.
Ngày 05/7/2019 Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa đã tiến hành xác minh tại nhà bà Đinh Thị N, trú tại thôn T, xã S, huyện T là mẹ của anh Đinh Văn T. Bà N cho biết anh Đinh Văn T có hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã S, huyện T, hiện nay anh T đang đi làm ăn và sinh sống ở miền nam nên không có mặt tại địa phương, gia đình không biết rõ địa chỉ cụ thể của anh T. Sau khi nhận được thông báo thụ lý và các giấy triệu tập của Tòa án gửi cho anh T, gia đình đều báo cho anh T biết nhưng do điều kiện ở xa và công việc bận rộn nên anh T không về giải quyết được và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Đinh Văn T kết hôn với nhau vào ngày 04/02/2015 hoàn toàn tự nguyện và hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng bước đầu hạnh phúc nhưng được một thời gian thì xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính cách không hợp nhau và hai người thiếu tin tưởng nhau. Vì mâu thuẫn kéo dài và không có biện pháp để khắc phục nên vợ chồng sống ly thân từ tháng 5 năm 2015 cho đến nay.
Xét thấy thời gian vợ chồng sống ly thân đã lâu, trong thời gian sống ly thân cả hai người đều không quan tâm và không liên lạc với nhau nên việc dàn xếp mâu thuẫn là khó khăn. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyện vọng xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H là có căn cứ. Quá trình giải quyết vụ án anh Đinh Văn T không hợp tác nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Vì vậy cần áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử chị Nguyễn Thị H được ly hôn vắng mặt anh Đinh Văn T.
Về con chung của vợ chồng: Chị Nguyễn Thị H và anh Đinh Văn T không có con chung với nhau nên Hội đồng xét xử không xem xét
Về tài sản chung của vợ chồng: Chị Nguyễn Thị H và anh Đinh Văn T không có tài sản chung, không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá phát biểu ý kiến về việc áp dụng pháp luật trong việc giải quyết vụ án của Thẩm phán và Thư ký đã tuân theo các quy định của pháp luật và tại phiên toà Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ và đảm bảo quyền lợi của đương sự theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo quyền lợi của các đương sự.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử chị Nguyễn Thị H được ly hôn vắng mặt anh Đinh Văn T; về án phí buộc chị H phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Xử chị Nguyễn Thị H ly hôn vắng mặt anh Đinh Văn T.
2. Về con chung của vợ chồng: Vợ chồng không có con chung với nhau nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về tài sản chung của vợ chồng: Vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Chị H đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0003758 ngày 01/3/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuyên Hoá nay được khấu trừ.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Tuyên bố các bên có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 15/8/2019. Đối với bị đơn vắng mặt thời hạn trên tính từ ngày niêm yết bản án nơi cư trú.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Bình; - VKSND huyện Tuyên Hóa; - Các đương sự; - Chi cục THADS Tuyên Hóa; - Lưu Hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Minh Toàn |