vanban.org

Bản án 19/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Huế, TP. Huế Tuyên án 23/08/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

p dụng khoản 3 Điều 26; Điều 147; khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, 466, 468, Điều 469 của Bộ Luật dân sự; Điều 25, 27, 37 Luật Hôn nhân v gia đình; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016//UBTVQH 14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn b Trần Thị Mỹ L Buộc b Phạm Thị T v ông Nguyễn Văn H phải chịu trách nhiệm L đới trả cho b Trần Thị Mỹ L tổng số tiền 601.600.000 đồng; trong đó: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bản án L - T"
  • Tòa quyết gì? p dụng khoản 3 Điều 26; Điều 147; khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, 466, 468, Điều 469 của Bộ Luật dân sự; Điều 25, 27, 37 Luật Hôn nhân v gia đình; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016//UBTVQH 14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; tuyên xử:
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HUẾ
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2019/DS-ST
Ngày: 23/8/2019.
“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
và nợ hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: B Thái Thị Hồng Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. B Trần Thị Thanh Xuân

2. Ông Nguyễn Hữu Trực

-Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Bùi Thị Huyền Trang, Thư ký Toà án nhân dân th nh phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế: Ông Nguyễn Ngọc Hiếu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân th nh phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xét sử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 12/2018/TLST- DS ngày 29 tháng 01 năm 2018, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay t i sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2019/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 7 năm 2019 v Quyết định hoãn phiên tòa số 155/2019/QĐST-DS ngày 25 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: B Trần Thị Mỹ L; địa chỉ: 21 A B, xã H, huyện H, tỉnh

Thửa Thiên Huế; có mặt.

2. Bị đơn: B Phạm Thị T; địa chỉ: 34 N, phường P, th nh phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Văn H; địa chỉ: 34 N, phường P, th nh phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ng y 18/4/2017, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ L trình bày:

Do quen biết từ lâu trong quá trình l m ăn buôn bán tại Chợ Đ, th nh phố H nên từ ng y 25 tháng 6 năm 2016 đến ng y 02 tháng 7 năm 2016 bà có cho b Phạm Thị T mượn tổng số tiền 640.000.000 đồng, b T có trả cho b L 04 lần với tổng số tiền 170.000.000 đồng, trong giấy mượn tiền không ghi lãi suất nhưng hai bên có thỏa thuận lãi suất 3%/tháng thực tế b T chưa trả tiền lãi cho bà L.

Ngày 31/8/2016, bà T xác nhận còn nợ b L 470.000.000 đồng. từ đó đến nay mặc dù bà L nhiều lần đòi nợ nhưng b T không trả. Vì vậy, b L khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc b Phạm Thị T v ông Nguyễn Văn H phải trả cho b số tiền gốc 470.000.000 đồng v 15.600.000 đồng tiền lãi. Tổng cộng: 485.600.000 đồng. bà L cung cấp chứng cứ l một tờ giấy ghi “T mượn”, tổng số tiền mượn 640.000.000 đồng, tổng số tiền đã trả 170.000.000 đồng

Tại đơn khởi kiện bổ sung ngày 31/8/2018 v lời khai ng y 19/9/2018 bà L trình bày:

Ng y 08/1/2016 (âm lịch), b L có góp hụi cho b T l chủ hụi một chân hụi, mỗi ng y góp 500.000 đồng, thời gian góp 10 tháng, b L đã góp được 5 tháng với tổng số tiền 75.000.000 đồng.

Ngày 15/1/2016 (âm lịch) b L có góp cho bà T một chân hụi thứ hai, mỗi ng y góp 500.000 đồng, thời gian góp 10 tháng, b L đã góp được 5 tháng với tổng số tiền 75.000.000 đồng.

Tổng cộng hai chân hụi b L đã góp cho bà T l 150.000.000 đồng, b T đã trả lại cho bà L 34.000.000 đồng, số tiền hiện còn nợ l 116.000.000 đồng. Vì vậy b L yêu cầu vợ chồng b T phải có nghĩa vụ L đới trả cho b số tiền 116.000.000 đồng nợ hụi.

Chứng cứ b L cung cấp l một quyển sổ trong đó có 2 trang ghi “Hụi 10 người, vô bát 500 T, 8/1 AL 2016” v “Hụi 10 người, vô bát 500 T, 15/1 AL 2016”, b L chữ viết trong sổ ghi hụi l chữ viết của b T.

Tổng số tiền nợ vay v nợ hụi b L yêu cầu vợ chồng b T phải trả l : 601.600.000 đồng.

Phía bị đơn- bà Phạm Thị T trong quá trình giải quyết vụ án, trình bày: Bà có mượn của b Trần Thị Mỹ L nhiều lần, tổng số tiền nợ gốc l 470.000.000 đồng, mục đích mượn tiền l để buôn bán l m ăn, nhưng ng y 31/8/2016, b L cùng chồng của b L đến nh bố của b T (địa chỉ 07 N, th nh phố H) v đã thỏa thuận b T giao cho các chủ nợ trong đó có b L 01 số bạc v 01 giấy thuê lô tại chợ Đông Ba để trừ khoản nợ của b L. Hiện nay b T đã trả hết nợ nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của b L nhưng không có chứng cứ về việc trả nợ. B T cũng công nhận chứng cứ do b L cung cấp ghi T mượn” l chữ của b T. Từ sau ng y 31/8/2016, b L có đến đòi nợ nhiều lần nhưng do b L đã đồng ý trừ hết nợ nên b T không trả nữa.

Về khoản nợ hụi bị đơn b T công nhận có nhận tiền góp hụi của b L 02 chân hụi với tổng số tiền 150.000.000 đồng theo như trình b y của bà L. Tuy nhiên, bà T đã trả cho bà L tổng số tiền 64.000.000 đồng, còn nợ 86.000.000 đồng nhưng do bà L đã đồng ý ký giấy trừ hết nợ cho b T ngày 31/8/2016 nên bà L khởi kiện thì b T không đồng ý.

Người có quyền lợi v nghĩa vụ L quan: Ông Trần Trung Minh H là chồng của bà L, trình bày: Việc vay mượn giữa b L và bà T ông không biết, số tiền m b L cho bà T vay v góp hụi tại b T l t i sản của riêng b L, ông không có L quan gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật

Người có quyền lợi v nghĩa vụ L quan ông Nguyễn Văn H - chồng của b T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt.

Quá trình giải quyết vụ án,Tòa án đã tiến h nh lấy lời khai của người l m chứng trong vụ án l b Nguyễn Thị T, khai rằng: Trước đây b T có cho bà T vay tiền, ng y 31/8/2016 bà và bà T có viết giấy trả tiền, sau đó b T bán số bạc do b T giao và 01 lô h ng ở chợ Đ, tổng cộng được 550.000.000 đồng, b T nợ b Túy 700.000.000 đồng, nên bà T lấy nợ 400.000.000 đồng, còn lại 150.000.000 đồng b có chia cho b Lê Thị T, l một chủ nợ khác của b T, những chủ nợ khác theo danh sách giấy trả tiền ng y 31/8/2016 thì bày T chưa đưa cho họ một số tiền n o cả.

Tại phiên tòa, bà Trần Thị Mỹ L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng b T- ông H phải có trả cho b số tiền l 601.600.000 đồng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân th nh phố Huế phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, Thẩm phán xác định đúng quan hệ tranh chấp, đúng thẩm quyền v xác định đúng những người tham gia tố tụng; tại phiên tòa, vắng mặt bị đơn v người có quyền lợi nghĩa vụ L quan, tuy nhiên, Tòa án đã tống đạt hợp lệ lần thứ hai các văn bản tố tụng cho những người vắng mặt do đó căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ L quan.

Quan điểm về giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 58, Điều 262 Bộ luật Tố tụng Dân sự; áp dụng Điều 26, Điều 147; Khoản 2, Điều 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Luật Hôn nhân v Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý v sử dụng án phí v lệ phí To án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn b Trần Thị Mỹ L, buộc b Phạm Thị T và ông Nguyễn Văn H phải có nghĩa vụ L đới để trả nợ cho b L số tiền l 601.600.000 đồng, buộc b Phạm Thị T v ông Nguyễn Văn H phải chịu tiền án phí sơ thẩm và bà Trần Thị Mỹ L được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, v căn cứ v o kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: To án đã triệu tập hợp lệ bị đơn b Phạm Thị T và người có quyền lợi v nghĩa vụ L quan ông Nguyễn Văn H đến tham gia phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng họ vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng. Theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến h nh xét xử vắng mặt bà T và ông H.

Về nội dung tranh chấp:

Bà Phạm Thị T công nhận có mượn của b L tổng số tiền 640.000.000 đồng, đã trả 170.000.000 còn nợ 470.000.000 đồng. Ngày 31/8/2016 bà T đã họp các chủ nợ tìm phương án trả nợ và b Phạm Thị T đã tự nguyện viết “Giấy trả tiền” (bút lục số 04), thừa nhận số tiền nợ của từng người cụ thể, trong đó, b Phạm Thị T còn nợ của b Trần Thị Mỹ L số tiền 470.000.000 đồng. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận giao tính đến ng y 31/8/2016 b T còn nợ của b L số tiền nợ vay l 470.000.000 đồng.

Đối với khoản nợ hụi: B T công nhận có nhận tiền góp hụi của b L hai chân hụi với tổng số tiền l 150.000.000 đồng, b T cho rằng đã trả cho b L 64.000.000 đồng nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh, b L chỉ thừa nhận b T đã trả 34.000.000 đồng. Như vậy, có căn cứ khẳng định số tiền hụi b T còn nợ của b L là 116.000.000 đồng.

B Phạm Thị T cho rằng đã trả nợ cho b Trần Thị Mỹ L theo phương thức cấn trừ từ giá trị được chia theo tỷ lệ phần trăm số tiền còn nợ từ số tiền bán được lô h ng trên l không có căn cứ pháp luật. Bởi lẽ, b không xuất trình được t i liệu chứng cứ gì chứng minh cho lời khai của mình l có cơ sở, mặt khác, lời khai của b L khẳng định không chấp nhận phương thức trả nợ n y của b T v b cũng chưa nhận số tiền trả nợ nào từ bà T. Lời khai n y phù hợp với lời khai của người l m chứng l b Nguyễn Thị Túy, phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Về yêu cầu tính lãi: b L yêu cầu số tiền lãi l : 15.600.000 đồng, được tính từ ng y 1/1/2017 đến ng y 30/4/2017, với mức lãi suất 10%/năm l có căn cứ.

Bà L cung cấp 01 thông báo đòi nợ gửi cho b Phạm Thị T ghi ngày 14/3/2017; ngoài ra, lời khai của b T tại Tòa án đã khẳng định b L nhiều lần bằng lời nói trực tiếp yêu cầu b T phải trả khoản nợ trên. Như vậy, xác định hợp đồng giữa người bà L và bà T l hợp đồng vay t i sản không kỳ hạn theo quy định tại Điều 469 của Bộ luật dân sự, trước khi khởi kiện, b L đã đáp ứng đầy đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật. Đã hết thời hạn thông báo đòi nợ nhưng b T không trả, ảnh hưởng đến quyền v lợi ích hợp pháp của b L, nên bà L có quyền khởi kiện yêu cầu To án giải quyết để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của b . Quá trình giải quyết vụ án, b T khai mục đích vay tiền của b L l để buôn bán, l m ăn việc vay tiền giữa b v b Nghĩa thì chồng b l ông Nguyễn Văn H không biết v không có L quan gì. Căn cứ các quy định của pháp luật dân sự v pháp luật hôn nhân v gia đình, buộc vợ chồng b Phạm Thị T- ông Nguyễn Văn H phải chịu trách nhiệm L đới trả cho b Trần Thị Mỹ L số tiền 601.600.000 đồng l có căn cứ, phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Phạm Thị T v ông Nguyễn Văn H phải chịu án phí l 20.000.000 đồng + (4% x 201.600.000 đồng) = 28.064.000 đồng.

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên nguyên đơn không phải chịu án phí, được trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp;

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH :

p dụng khoản 3 Điều 26; Điều 147; khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, 466, 468, Điều 469 của Bộ Luật dân sự; Điều 25, 27, 37 Luật Hôn nhân v gia đình; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016//UBTVQH 14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn b Trần Thị Mỹ L

Buộc b Phạm Thị T v ông Nguyễn Văn H phải chịu trách nhiệm L đới trả cho b Trần Thị Mỹ L tổng số tiền 601.600.000 đồng; trong đó:

Nợ gốc: 586.000.000 đồng

Nợ lãi: 15.600.000 đồng

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc b Phạm Thị T v ông Nguyễn Văn H phải chịu 28.064.000 đồng

Ho n trả số tiền tạm ứng án phí 11.400.000 đồng v 2.900.000 đồng mà bà Trần Thị Mỹ L đã nộp theo biên lai thu số AA/2013/004516 ngày 18/01/2018 v Biên lai số Â/2013/006020 ngày 13/9/2018 tại Chi cục thi h nh án dân sự th nh phố Huế.

Kể từ ng y án có hiệu lực pháp luật, nếu người phải thi h nh án không thi h nh án đủ khoản tiền nói trên thì h ng tháng phải chịu thêm một khoản tiền do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự của số tiền nợ gốc chưa thanh toán.

Trường hợp bản án được thi h nh theo quy định tại Điều 2 Luật Thi h nh án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi h nh án dân sự năm 2014, thì người được thi h nh án dân sự, người phải thi h nh án dân sự có quyền thỏa thuận thi h nh án, quyền yêu cầu thi h nh án, tự nguyện thi h nh án hoặc bị cưỡng chế thi h nh án theo quy định tại các Điều 6, 7 v 9 Luật Thi h nh án dân sự v Điều 7a, 7a Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi h nh án dân sự năm 2014; thời hiệu thi h nh án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi h nh án dân sự.

n xử sơ thẩm công khai. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi v nghĩa vụ L quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ng y kể từ ng y tuyên án; những người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ng y kể từ ng y nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ