- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi Thị A- Tàng trữ trái phép CMT - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Về hình phạt bổ sung: không.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật tố tụng hình sự qui định
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THỊ XÃ CỬA LÒ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2018/HSST Ngày 28/6/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ- TỈNH NGHỆ AN
VỚI HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM GỒM CÓ:
Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: bà Đặng Thị Lệ Hằng . Các Hội thẩm nhân dân:
1. ông Nguyễn Thức Phong- Cán bộ Bệnh viện đa khoa thị xã Cửa Lò.
2. bà Nguyễn Thị Thủy- Cán bộ Liên đoàn Lao động thị xã Cửa Lò.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: bà Nguyễn Thị Thu Hiền- cán bộ Toà án nhân dân Thị xã Cửa Lò.
Kiểm sát viên tham gia phiên toà: ông Nguyễn Mạnh Thắng- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò.
Ngày 28 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở UBND phường Nghi Thủy, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An, Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An mở phiên toà để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2018/HSST ngày 28 tháng 5 năm 2018 đối với: Bị cáo: Vi Thị A, sinh ngày 10/9/1994 Trú quán: bản Na Ca, xã Châu Hạnh, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Trình độ văn hoá: 9/12
Nghề nghiệp: Lao động tự do
Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Vi Văn T, SN 1974 và bà Vạn Thị H, SN 1972 Chồng chưa có; con: 01 con Vi Trung K 3 tuổi và hiện đang mang thai ở tháng thứ 8. Tiền án, tiền sự: không
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/3/2018 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 02/02/2018, tại phòng 102 khách sạn Hải Quan thuộc khối Hiếu Hạp, phường Nghi Thu, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An, Công an phường Nghi Thu, thị xã Cửa Lò phát hiện và bắt quả tang Vi Thị A đang có hành vi tàng trữ 01 gói giấy nhỏ chứa chất tinh thể màu trắng có trọng lượng 0,135g nghi là ma túy đá.
Tại kết luận giám định số 311/KL- PC54 (MT) ngày 08/02/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: chất bột màu trắng thu từ Vi Thị A gửi tới giám định là ma túy tổng hợp (Methaphetamin).
Tại bản cáo trạng số 20/CT- VKSTXCL ngày 25 tháng 5 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò đã truy tố bị cáo Vi Thị A về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, qua xét hỏi, bị cáo Vi Thị A đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra. Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng số 20/CT- VKSTXCL của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò đã truy tố là đúng và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, n khoản 1 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Vi Thị A mức án từ 09 đến 12 tháng tù. Về vật chứng: đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy 0,070g Methaphetamin còn lại (sau khi đã lấy mẫu gửi đi giám định ) thu giữ từ Vi Thị A.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã Cửa Lò, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự qui định. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện hợp pháp.
Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: tại phiên toà, bị cáo Vi Thị A đã khai nhận vào tối ngày 01/02/2018, có người bạn của A tên là Thủy và Cường đến phòng 102 của khách sạn Hải Quan chơi và cùng sử dụng ma túy với nhau. Sau khi sử dụng xong, Thủy đưa cho A số ma túy còn lại để cất giữ. Đến sáng ngày 02/02/2018, A đang ở trong phòng 102 của khách sạn Hải Quan thì bị Công an phường Nghi Thu, thị xã Cửa Lò kiểm tra và bắt giữ. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với tang vật thu giữ được trong vụ án và kết luận giám định có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở để HĐXX kết luận bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do trọng lượng ma túy là 0,135g nên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS với hành vi tàng trữ trái phép là thỏa đáng và đúng mức.
Xét tính chất vụ án: vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng và hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội. Mặc dù bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy, bản thân lại đang mang thai nhưng vẫn sử dụng ma túy để thỏa mãn cơn nghiện. Hành vi đó của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, bởi vì ma túy là chất độc dược hủy hoại sức khỏe con người, là nguyên nhân làm phát sinh một số loại tội phạm khác và gây mất ổn định xã hội.
Xét tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải; khi phạm tội đang mang thai nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, n khoản 1 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Xét về động cơ phạm tội là do nghiện ma túy do lỗi cố ý, do vậy Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết để áp dụng khoản 1 điều 54 BLHS để xử dưới khung hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mà để mức án khởi điểm đầu khung hình phạt cũng là phù hợp với chính sách phòng chống ma túy của Đảng và Nhà nước, phù hợp với tinh thần của tháng hành động phòng chống ma túy trên địa bàn thị xã, đồng thời phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội 1 thời gian để bị cáo có thể cai nghiện, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào biên bản xác minh có trong hồ sơ thì bị cáo Vi Thị A là lao động tự do, thu nhập không ổn định, cũng không có tài sản riêng. Bị cáo tàng trữ ma túy chỉ để sử dụng chứ không nhằm mục đích mua bán, không làm phát sinh lợi nhuận; hiện tại bị cáo đang mang thai, sau này còn phải chấp hành hình phạt tù, do đó HĐXX quyết định miễn hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: quá trình điều tra truy tố cơ quan điều tra đã thu giữ một số ma túy có trọng lượng 0,135g, sau khi lấy một số gửi đi giám định còn lại số chất tinh thể màu trắng được niêm phong trong bì thư có chữ ký của bị cáo Vi Thị A cần tịch thu tiêu hủy. Đối với chiếc túi xách da màu đen, kích thước (30 x 15)cm loại có tay xách và dây đeo nhãn hiệu Shunedn đã qua sử dụng thu giữ từ Vi Thị A không còn giá trị sử dụng nên cần tiêu hủy.
Trong vụ án còn có hai đối tượng tên là Thủy và Cường- là người mà Vi Thị A khai đã đưa ma túy cho bị cáo vào ngày 01/02/2018 tại phòng 102 của Khách sạn Hải Quan, nhưng quá trình điều tra, Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ để kết luận nên không có cơ sở để xử lý.
Quá trình thẩm vấn công khai tại phiên tòa, bị cáo khai hiện đang ở tại phòng trọ thuộc khối 3, phường Nghi Hương, thị xã Cửa Lò từ đầu tháng 02/2018 cho đến nay nhưng không khai báo tạm trú theo quy định của Luật cư trú. Vì vậy cần kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền ở phường Nghi Hương và thị xã Cửa Lò tăng cường quản lý đối với công tác đăng ký tạm trú trên địa bàn.
Bị cáo Vi Thị A phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, n khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vi Thị A 01 (Một) năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: không.
Vật chứng: áp dụng khoản 2 điều 106 BLTTHS tiêu hủy:
+ 01 phong bì thư bưu điện kích thước (10 x 18)cm được niêm phong, trên các mép dán ký có chữ ký của Vi Thị A cùng các thành phần tham gia niêm phong, bên trong có một túi ni lông kích thước (01 x 01)cm, một túi ni lông kích thước (05 x 10)cm đựng một số chất tinh thể màu trắng còn lại sau khi đã lấy mẫu gửi giám định; một vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng thu giữ của Vi Thị A;
+ 01 túi xách da màu đen, kích thước (30 x 15)cm loại có tay xách và dây đeo nhãn hiệu SHUNEDN đã qua sử dụng thu giữ từ Vi Thị A.
(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cửa Lò theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/5/2018).
Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Vi Thị A phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND TX Cửa Lò; - Chi cục THADS TX Cửa Lò; - TAND, VKSND tỉnh Nghệ An; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đặng Thị Lệ Hằng |