vanban.org

Bản án 19/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 12/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Cao Minh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 100.000 ( Một trăm ngàn) đồng và 01 điện thoại di động hiệu LAND ROVER; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Minh T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cao Minh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
H. GÒ CÔNG ĐÔNG
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2018/HSST
Ngày: 12- 9-2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Huỳnh Thị Mỹ Hà

2/ Ông Phạm Văn Năm

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Trinh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông tham gia phiên tòa: Ông Trương Minh Kha, Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 17/2018/TL-HSST ngày 03/8/2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Cao Minh T, sinh năm 1979, tại thị xã G, tỉnh Tiền Giang. Nơi đăng ký HKTT: số A khu phố B, phường B, thị xã G, tỉnh Tiền Giang; Chỗ ở: khu phố M, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: làm ruộng; Trình độ học vấn: 5/12; Con ông: Cao Văn C, sinh năm 1952 và bà Võ Thị Kim A, sinh năm 1954; Vợ: Ngô Thị T, sinh năm 1975; Con: có 03 người lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2009. Tiền sự: không; Tiền án: không.

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/4/2018, có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Trần Phước H (H) sinh năm 1983; Nơi cư trú: ấp G, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 45 phút ngày 12/4/2018, tại nhà xe của Bệnh viện đa khoa G, đội CSĐT TP về HS-KT-MT Công an huyện Gò Công Đông bắt quả tang Cao Minh T đang cất giấu trái phép chất ma túy trong người. Tang vật thu giữ gồm: 16 đoạn ống hút nhựa màu trắng hàn kín hai đầu bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là heroin để trong túi áo bên trái và trong cái bóp màu xanh lá cây có khóa kéo màu đen để trong túi quần bên trái được niêm phong; 01 cái bóp màu xanh lá cây có khóa kéo màu đen; 01 điện thoại di động hiệu LAND ROVER; 01 cái bóp da màu đen; 01 xe mô tô hiệu SIRIUS màu đỏ đen biển số 63B7-267.12; Tiền Việt Nam 490.000 đồng.

Kết luận giám định số 64/KLGĐ-PC54 ngày 14/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang xác định Mẫu chất bột màu trắng trong 16 đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín để trong 01 bì thư được niêm phong có các chữ ký ghi họ tên: Trần Minh H, Nguyễn Duy M, Cao Minh T, Bùi Nhật T, Võ Văn H, Trương Minh K, Hồ Minh K và hình dấu tròn màu đỏ in chữ: CÔNG AN XÃ T – CÔNG AN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG – TỈNH TIỀN GIANG; gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,6741 gam loại Heroine.

Tại cơ quan điều tra, bị cáo Cao Minh T khai chất bột màu trắng chứa trong 16 đoạn ống hút là heroin, số ma túy này là của bị cáo. Khoảng 09 giờ ngày 12/4/2018 bị cáo điều khiển xe mô tô 63B7-267.12 đến khu vực “Ba Cây Dừa” thuộc Quận T, thành phố Hồ Chí Minh mua 500.000 đồng heroin của một người thanh niên không biết họ tên và địa chỉ. Sau đó bị cáo thuê 01 phòng trọ (không nhớ tên và địa chỉ) vào nghỉ và phân chia thành 17 tép nhỏ rồi trở về nhà. Trên đường về bị cáo bán cho một người lạ mặt không biết họ tên, địa chỉ 01 tép heroin giá 100.000 đồng. Sau đó anh Trần Phước H (H) gọi điện cho bị cáo hỏi mua 02 tép heroin giá 100.000 đồng 01 tép. Bị cáo đem ma túy đến Bệnh viện khu vực G để bán cho anh Trần Phước H nhưng đang chờ giao ma túy cho anh H thì bị bắt giữ cùng tang vật.

Ngoài lần bị bắt, trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 4 năm 2018 (không nhớ rõ ngày) bị cáo còn đến khu vực “Ba Cây Dừa” thuộc Quận T, thành phố Hồ Chí Minh 05 lần (không nhớ ngày cụ thể, cách 03 ngày đi 01 lần) để mua ma túy (heroin) của một thanh niên không biết họ tên, địa chỉ, mỗi lần bị cáo mua 500.000 đồng heroin rồi phân chia thành nhiều tép nhỏ để sử dụng và bán lại cho người khác, cụ thể như sau:

Bán cho anh Trần Phước H: Lần thứ nhất: Cách ngày bị bắt khoảng 15 ngày, anh H đến nhà bị cáo để cầm xe mô tô biển số 63B7-267.12 và mua của bị cáo 05 tép heroin mỗi tép giá 100.000 đồng; Lần thứ hai: Sau lần thứ nhất khoảng 02 ngày, anh H gọi điện cho bị cáo mua 05 tép heroin mỗi tép giá 100.000 đồng, bị cáo giao ma túy cho anh H tại khu vực xã T, huyện G; Lần thứ ba: Sau lần thứ hai khoảng 02 ngày, anh H gọi điện cho bị cáo mua 03 tép heroin giá mỗi tép 100.000 đồng, bị cáo giao ma túy cho anh H tại khu vực chợ G thị xã G; Lần thứ tư: Sau lần thứ ba khoảng 02 ngày, anh H gọi điện cho bị cáo mua 05 tép heroin giá mỗi tép 100.000 đồng, bị cáo giao ma túy cho anh H tại khu vực gần nhà của anh H; Lần thứ năm: Sau lần thứ tư khoảng 02 ngày, anh H đến nhà bị cáo mua 02 tép heroin, giá mỗi tép 100.000 đồng.

Bán cho anh Nguyễn Minh H sinh năm 1970 ngụ khu phố H, thị xã G: Lần thứ nhất: Cách ngày bị bắt khoảng 10 ngày bị cáo bán cho anh H 02 tép heroin, mỗi tép giá 100.000 đồng tại khu vực Chợ G, thị xã G. Lần thứ hai: Sau lần thứ nhất khoảng 02 ngày bị cáo bán cho anh H 02 tép heroin mỗi tép giá 100.000 đồng tại khu vực A, thị xã G. Lần thứ ba: cách lần thứ hai khoảng 03 ngày bị cáo bán cho anh H 01 tép heroin giá 100.000 đồng tại khu vực A, thị xã G.

Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKS-GCĐ ngày 02/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang đã truy tố bị cáo Cao Minh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b,c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát đề nghị: Tuyên bố bị cáo Cao Minh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Cao Minh T từ 09 năm đến 10 năm tù giam. Về vật chứng, áp dụng điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 100.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu LAND ROVER, trả lại bị cáo số tiền 390.000 đồng và 01 cái bóp da màu đen, trả lại anh Trần Phước H 01 xe mô tô hiệu SIRIUS màu đỏ đen biển số 63B7-267.12, tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng còn lại.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng thống nhất nội dung quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Bị cáo khai có mua heroin mang về sử dụng và để bán lại nhưng chưa bán được thì bị bắt như Cáo trạng nêu là đúng. Bị cáo không nói lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Gò Công Đông, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tiến hành tố tụng, người tiến hàng tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp cáo trạng, vật chứng, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Xét bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma túy là bị pháp luật cấm, nhưng vì mục đích muốn có tiền để tiếp tục mua heroin sử dụng, nên bị cáo đã đi tìm mua chất ma túy để sử dụng và bán lại kiếm lời, bất chấp hậu quả, thực hiện hành vi một cách công khai, xem thường pháp luật. Số lượng ma túy bị cáo cất giữ trong người để nhằm mục đích bán trái phép bị thu giữ được giám định có khối lượng 0,6741 gam loại Heroine. Ngoài lần bị bắt quả tang, trong khoản thời gian từ tháng 3 đến tháng 4 năm 2018, bị cáo còn đến khu vực “Ba Cây Dừa” thuộc Quận T, thành phố Hồ Chí Minh 05 lần để mua ma túy (heroin) mang về phân chia thành nhiều tép nhỏ để sử dụng và bán lại cho anh Trần Phước H tổng cộng 05 lần. Bán cho anh Nguyễn Minh H tổng cộng 03 lần và người nghiện ma túy khác.

Tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

…

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Đối với 02 người trở lên;

Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Cao Minh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b,c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng chất ma tuý, gây thiệt hại cho lợi ích của xã hội còn ảnh hưởng đến tình hình trật tự an toàn ở địa phương, cần thiết cách ly để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Xét nhân thân của bị cáo chưa tiền án, tiền sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử cũng thấy rằng sau khi bị bắt, bị cáo tự khai báo các lần mua bán trái phép chất ma túy trước đó, nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, có xem xét giảm nhẹ khi quyết định hình phạt.

Về vật chứng: Đối với 01 xe mô tô hiệu SIRIUS màu đỏ đen biển số 63B7-267.12 là tài sản của anh Trần Phước H giao xe cho bị cáo giữ vì anh H có mượn bị cáo một số tiền, anh H không biết việc bị cáo sử dụng xe để mua bán trái phép chất ma túy, anh H có đơn xin nhận lại tài sản, nên giao trả xe cho anh H là phù hợp. Đối với số tiền 490.000 đồng, bị cáo khai trong đó có 100.000 đồng là tiền bị cáo bán ma túy cho một người thanh niên không rõ họ tên, địa chỉ và điện thoại di động hiệu LAND ROVER là phương tiện bị cáo sử dụng liên lạc bán ma túy nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước. Số tiền còn lại là 390.000 đồng và 01 bóp da màu đen là tài sản của bị cáo không liên quan đến tội phạm nên giao trả lại bị cáo. Các vật chứng còn lại là vật liên quan đến tội phạm, vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Về thu lợi bất chính: Xét bị cáo là người nghiện ma túy, việc bị cáo bán ma túy là để thu hồi vốn bù vào số ma túy bị cáo đã sử dụng, nhằm tiếp tục mua ma túy để sử dụng nên không có thu lời.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai bán ma túy cho người tên B và một người thanh niên nhưng không biết họ tên, địa chỉ cụ thể, hiện chưa xác định được lai lịch của tên B và người thanh niên nói trên, nên chưa làm rõ được các lần bán ma túy này, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau. Đối với hành vi mua ma túy của anh Trần Phước H và anh Nguyễn Minh H đã được xử lý hành chính theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Cao Minh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 251, điểm r, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Cao Minh T 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 12/4/2018.

Vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 100.000 ( Một trăm ngàn) đồng và 01 điện thoại di động hiệu LAND ROVER;

- Giao trả bị cáo Cao Minh T số tiền 390.000 ( Ba trăm chín mươi ngàn) đồng và 01 bóp da màu đen;

- Giao trả anh Trần Phước H 01 xe mô tô hiệu SIRIUS màu đỏ đen biển số 63B7-267.12;

- Tịch thu tiêu hủy 01 bóp màu xanh lá cây có khóa kéo màu đen và 01 phong bì thư được Phòng kỷ thuật hình sự - Công an tỉnh Tiền Giang niêm phong ký hiệu số 64 ngày 14/4/2018 có chữ ký in họ tên: Nguyễn Thanh T, Nguyễn Thị Kiều L, chữ ký ghi họ tên Lê Minh L và hình dấu tròn màu đỏ in chữ: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ- CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; Bị cáo Cao Minh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ