vanban.org

Bản án 19/2018/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 31/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ vào điểm e khoản 3 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tuyên bố bi ̣ cáo Trần Ngo ̣c T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý". Xử phạt bị cáo Trần Ngọc T 15 (Mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam là ngày 07/12/2017 . Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HSST - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ vào điểm e khoản 3 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2018/HS-ST
Ngày: 31-5-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tàa: Ông Trần Hồng Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Trà Giang

Ông Bùi Văn Hồng

- Thư ký phiên tàa: Ông Nguyễn Duy Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tho ̣ - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2018/TLST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2018/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Trần Ngo ̣c T, sinh ngày 24/3/1966, tại thị trấn D, huyê ̣n Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi cư trú: Khối 6, Thị trấn D, huyê ̣n Đ, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Đinh T (đa chết) và con bà Nguyễn Thị T ;̃

̀

vợ Nguyễn Thi ̣ N , có 04 con (con đầu sin h năm 1991, con út sinh năm 1999); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 30/8/2002, bị TAND tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 05 năm tù về tô ̣i “Mua bán trái phép chất ma tuý”

; ngày 29/9/2006, bị TAND huyê ̣n Đứ c Tho ̣, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 08 tháng tù về tội “Đánh bạc” ; ngày 18/9/2017, bị TAND thành phố Vinh xử phạt 09 tháng tù về tội “Đánh bạc”, bị cáo chưa thi hành án do đang kháng cáo bản án ; bị cáo bị bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/12/2017 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thanh H (Vắng mă ̣t).

Trú tại: Thôn Đ, xã S, huyê ̣n C, tỉnh Hà Tĩnh.

* Người làm chứng:

- Anh Nguyễn Khắc N , trú tại: Xóm 6, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An (Có đơn xin xử vắng mă ̣t).

- Anh Nguyễn X uân C, trú tại : Thôn T, xã B , huyê ̣n Đ , tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mă ̣t).

- Anh Nguyễn Ma ̣nh K, trú tạ i: Xóm 4, xã N , huyê ̣n N , tỉnh Nghệ An (Vắng mă ̣t).

- Anh Nguyễn Văn C, trú tại: Xã V, huyê ̣n C, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mă ̣t).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 07/12/2017, Nguyễn Thanh H, sinh năm 1986, trú tại xã S, huyê ̣n C (bạn của T) đến nhà nói với T là hiê ̣n có người bạn ở Đà Nẵng về quê chơi muốn mua 100gam ma tuý đá và 400 viên hồng phiến, nếu lấy được thì bán kiếm lời . T đồng ý và lấy điện thoại g ọi cho một người bạn tên N (trú tại phườ ng C, thành phố V) để hỏi mua ma tuý, N đồng ý và nói 100gam ma tuý giá 32.000.000đồng và 400 viên hồng phiến giá 16.000.000đồng. T nói lại nội dung trên vớ i H, H đồng ý và nói T lát nữa đón H đi gă ̣p ba ̣n của H . Sau khi H về thi

̀ Nguyễn Xuân C và Nguyễn Mạ nh K đến nhà chơi . Tiến rủ K và C đi chơi rồi điều khiển xe ôtô mượn của chi ̣ O (bạn của T) chở K và C đi vào huyê ̣n C, đến ngã ba thuô ̣c xa D, huyê ̣̃

n Đ thì đón H lên xe rồi đi theo hướ ng xuống thi ̣ trấn N. Khi đến đoa ̣n gần ng ã ba ở thị tr ấn N (giao vớ i Quốc lô ̣ 1A) T nói với K và C vào quán ăn tối để T đi vớ i H có việc, tý lại đón. T chở H đi đến quán cà phê N thuô ̣c khối 5 thị trấn N gă ̣p la ̣i ngườ i đàn ông ba ̣n của H. Khi gă ̣p, T đă ̣t vấn đề ứng trướ c mô ̣t khoản tiền để mua ma tuý nhưng người này không đồng ý. T điê ̣n thoại cho N xin mua chi ̣u ma tuý , N đồng ý vớ i điề u kiê ̣n phải trả tiền cho N trong đêm. Sau đó T điều khiển xe đến quán cơm đón K và C rồi cả 4 ngườ i (T, H, K, C) cùng đi ra thành phố V. Khi đi đến đường N, thành phố V thì T bảo với H, K và C xuống xe còn T đi gă ̣p chi ̣ O để trả xe ôtô. Trả xe xong , T gọi điện cho N hẹn gặp ở khu vực C ầu Đ gần cây xăng N thuô ̣c phườ ng C. Khi đến thấy N ngồi trên xe máy chờ sẵn , N đưa cho T mô ̣t túi vải và nói “đủ cả trong đó”. T nhâ ̣n lấy túi vải màu đỏ có ma tuý và hỏi mượn của N 1.000.000đồng để đi taxi về, tý nữa ra trả đầy đủ 49.000.000đồng tiền mua ma tuý và tiền mượn . N đưa cho T 1.000.000đồng rồi phóng xe đi , T điê ̣n thoa ̣i c ho H bảo bắt taxi đón T ở cây xăng H. H gọi taxi Mai Linh BKS 37A ... của anh Nguyễn Khắc M, trú tại xã H, huyê ̣n H, tỉnh Nghê ̣ An rồi cù ng vớ i K và C đón T và đi về Hà Tinh. Khĩ đến thị trấn N, huyê ̣n C, Tiến bảo anh M dừ ng xe dừ ng xe ở quán cháo để K và C vào ăn. T và H tiếp tu ̣c đi theo h ướng vào thành phố H , khi đến quán tạp hoá gần cây xăng thi ̣ trấn N , T đưa 200.000đồng và bảo H xuống mua hô ̣p bánh , H mua mô ̣t hô ̣p bánh HURA Deli hết 45.000đồng đựng trong túi nilon màu vàng rồi đưa hô ̣p bánh và tiền thừ a cho T . T bóc hô ̣p bánh ra cho túi vải đựng ma tuý vào phía dưới c ác gói nhỏ , buô ̣c túi nilon la ̣i rồi hướ ng dẫn anh M lái xe đến quán cà phê N. Khi đến quán cà phê, T xuống xe xách gói bánh có ma tuý đi vào quán tìm người đàn ông mua ma tuý nhưng không thấy nên quay lại xe taxi . Sau đó T, H tiếp tu ̣c đi đến khách sạn V thuô ̣c khối 6 thị trấn N. Khi đến cổng khách sạn, H ngồi trong xe cùng anh M còn T cầm túi bánh bên trong có ma tuý đi vào khách sạn dấu bên tườ ng ca ̣nh cầu th ang tầng hầm rồi đi lên tầng hai để gă ̣p ngườ i mua ma tuý thi bi ̣ tổ công tác Phòng cảnh sát hình sự (PC45) Công an tinh

̀

̉ Hà Tĩnh phát hiện, yêu cầu T đi xuống cầm gói bánh lên để kiểm tra . Phát hiện bên trong có ma tuý , tổ công tác lập biên bản bắt ngư ời phạm tội quả tang và mọi ngườ i chứ ng kiến , cùng ngày Cơ quan điều tra ra lệnh khám xét khẩn cấ p nơi ở của Trần Ngo ̣c T.

* Vâ ̣t chứ ng thu giữ:

- Thu giữ khi bắ t quả tang : 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chứ a các chất tinh thể màu trắng ; 01 túi nilon màu xanh , bên trong có chứ a 198 viên nén màu hồng và 02 viên nén màu nâu. Trên bề mă ̣t các viên nén đều có chữ WY; 01 túi nilon màu xanh, bên trong có chứ a 188 viên nén màu hồng, 02 viên nén màu nâu cùng mô ̣t số mảnh vỡ của các viên nén. Trên bề mă ̣t các viên nén đều có chữ WY; 01 mảnh vải màu đỏ , kích thước 45x45cm, 01 túi nilon màu vàng ; 01 vỏ hô ̣p bánh HURA, tình trạng bánh còn nguyên vẹn; 01 giấy phép lái xe mang số Z156170 mang tên Trần Ngo ̣c T ; 01 ĐTDĐ Nokia 6300 màu đen , số IM EI 35xxx, trong máy có dùng số thuê bao 091xxx; 01 ĐTDĐ Samsung galaxy S8+, số IMEI 35xxx, trong máy có dùn g số thuê bao 097xxx; 01 đồng hồ đeo tay nhãn hiệu MICHELKORS , màu vàng trắng , quai đeo bằng kim loa ̣i ; 01 vòng đeo cổ bằng kim loa ̣i màu ba ̣c trắng ; 01 giấy phép lái xe ô tô ha ̣ ng B2, số 01077058221 mang tên Trần Ngo ̣c T ; 01 thẻ ATM số 97043668-04417090-033 mang tên Trần Ngo ̣c T; 01 CMND số 183732xxx mang tên Trần Ngo ̣c T; số tiền 765.000đồng; 01 chứ ng nhâ ̣n đăng ký xe máy s ố 000878 mang tên Lê Cao N ở T, huyê ̣n Đ, Hà Tĩnh, BKS 38D1-11xxx; 01 giấy chứ ng nhâ ̣n đăng ký xe máy số 035xxx mang tên Nguyễn Thi ̣ H ở khối 5, phườ ng B, thị xã H, BKS 38H9-8xxx.

- Khám xét nhà của Trần Ngọc T thu giữ : 01 khẩu súng tự chế màu đen dài 140cm (súng bắn cồ n); 01 súng ngắn tự chế bằng kim loại màu trắng , ốp nhựa ở tay cầm và 08 viên đa ̣n màu đồng , đầu đa ̣n tù ; 01 thanh kiếm bằng kim loại, dài 110 cm, tay cầm bằng kim loa ̣i màu vàng , vở bằng nhựa màu đen ; 01 dao nho ̣n bằng kim lo ại tự chế, lưỡi dao khoản 30cm được gắn vào 01 ống tuýp kim loa ̣i sơn màu xanh dài khoảng 50cm; 01 dụng cụ kích điện màu đen (số 928 TYPE); 10 dụng cụ sử dụng ma tuý đá (nhiều hinh da ̣ng khác nhau); 01 bình ga

̀ mini màu đỏ , có gắn bô ̣ phâ ̣n khò ; 20 ống hút bằng nhựa màu trắng , vàng; 01 hô ̣p đựng điê ̣n thoa ̣i có chữ S amsung galaxy A7, bên trong đựng các túi nilon chưa sử du ̣ng; 06 bâ ̣t lử a khò, nhiều hinh da ̣ng và màu sắc khác nhau.

̀

* Tại kết luận số: 134/GĐMT-PC54 ngày 08/12/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tinh Hả

̀ Tinh, kết luâ ̣̃

n:

- 386 viên nén màu hồng , 04 viên nén màu nâu và mô ̣t số mảnh vỡ các viên né n (ký hiệu M 1) thu giữ của T rần Ngo ̣c T gử i tớ i giám đi ̣nh là ma tuý , khối lượng 40,8510gam, là Methamphetamine.

- Chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M 2) thu giữ của Trần Ngo ̣c T gử i tớ i giám định là ma tuý, có khối lượng 100,1979gam, là Methamphetamine.

Methamphetamine là chất ma t uý nằm trong Danh mục II , STT 67, Nghị đi ̣nh 82 ngày 19/7/2013 của Chính phủ.

* Tại bản kết luận giám định số 13 ngày 29/12/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh , kết luâ ̣n: 01 khẩu súng ngắn thuô ̣c loa ̣i súng t ự chế, không phải vũ khi quân du ̣ng , không có tinh năng , tác dụng như vũ khí

́

́ quân du ̣ng; 01 khẩu súng dài thuô ̣c loa ̣i súng tự chế (súng bắn cồn), không phải vũ khí quân dụng , không có tinh năng tác du ̣ng như vũ khi quân du ̣ng ; 08 viên

́

́ đa ̣n gử i đến giám đi ̣nh là loa ̣i đa ̣n dùng cho súng thể thao.

Qúa trình điều tra, Cơ quan điều tra đa t rả lại cho Trẫ

̀n Gia H , con trai Trần Ngo ̣c T (theo giấy uỷ quyền của T ): 01 đồng hồ đeo tay hiê ̣u MICHENL KORS màu vàng trắng , quai đeo bằng kim loa ̣i ; 01 vòng đeo cổ bằng kim loại màu bạc trắng ; 01 thẻ AT số 9704366804417090033; 01 giấy phép lái xe ha ̣ng B2; 01 giấy phép lái xe số Z150170 đều mang tên Trần Ngo ̣c T.

Với hành vi nêu trên, tại Cáo trạng số 12/CTr-KSĐT ngày 02/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Trần Ngo ̣c T về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo điểm e khoản 3 điều 194 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử áp dụng điểm e khoản 3, khoản 5 Điều 194 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ

̀

luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Ngo ̣c T mức án từ 16-17 năm tù; phạt bổ sung bằng tiền từ 20 đến 30 triê ̣u đồng. Xử lý vâ ̣t chứ ng và buô ̣c bi ̣ cáo chi ̣u án phi

́ theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của cơ quan điều tra Công an tinh Hả

̀ Tĩnh, Điều tra viên, Viê ̣n kiểm sát nhân dân tinh Hả

̀ Tinh , Kiểm sã

́t viên trong quá trình điều tra , truy tố đa thự̃

c hiê ̣n đúng thẩm quyền , trình tự, thủ tục theo quy đi ̣nh của Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa,

̀ bị cáo không có ý kiến hoă ̣c khiếu na ̣i về hành vi , quyết đi ̣nh của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngườ i tiến hành tố tu ̣ng.

Theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 76 BLTTHS, bị cáo thuộc đối tượng được các cơ quan tiến hành tố tu ̣ng chỉ định người bào chữa . Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố và ta ̣i phiên toà bị cáo đã từ chối ngườ i bào chữa theo chi đi ̣̉ nh.

Qúa trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo Trần Ngo ̣c T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo là khách quan, phù hợp với cáo trạng đã truy tố, biên bản bắt người phạm tội quả tang , kết luâ ̣n giám đi ̣nh , lờ i khai của ngườ i có quyền lợi nghia vu ̣̃

liên quan , người làm chứng, biên bản thu giữ tang vật cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Hồi 21 giờ 30 phút, ngày 07/12/2017 tại khách sạn V thuô ̣c đi ̣a phâ ̣n khối 6, thị trấn N, huyê ̣n C, tỉnh Hà Tĩnh, khi Trần Ngo ̣c T mang theo mô ̣t hô ̣p bánh HURA Deli bên trong có 02 túi nilon màu xanh chứa 390 viên và mô ̣t số mảnh vu ̣ n viên hồng phiến (Methamphetamine), có trọng lượng 40,8510gam; 01 túi nilon màu trắng có chứ a 100,1979gam ma tuý da ̣ng đá (Methamphetamine) để bán cho một ngườ i đàn ông theo thoả thuâ ̣n từ trướ c thi bi ̣ Cơ quan cảnh sát điều tra Công an

̀

tỉnh Hà Tĩnh phát hiện bắt giữ.

Hành vi mua bán trái phép chất ma tuý nhằm mục đích kiếm lời

của bị cáo Trần Ngo ̣c T đa trực tiếp xâm phạm đến quy đi ̣̃

nh độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xa hội nên đã

̃ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm e khoản 3 điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999. Như vâ ̣y, Cáo trạng số 12/CTr-KSĐT ngày 02/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Trần Ngo ̣c Tiến là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điểm e khoản 3 Điều 194 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự quy đi ̣nh:

̀

“3. Ngườ i nà o mua bá n trá i phé p chất ma tuý thuộc cá c trườ ng hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mườ i lăm năm đến hai mươi năm:

e) Các chất ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ một trăm gam đến

dướ i ba trăm gam”.

Hành vi phạm tội của bị cáo là đă ̣c biê ̣t nghiêm tro ̣ng, ma túy là chất gây nghiện độc hại, việc sử dụng chất ma túy làm huỷ hoại sức khoẻ , mất khả năng lao động, suy kiệt kinh tế, ảnh hưởng trực tiếp đến bản thân người nghiện và hạnh phúc gia đình họ. Bên cạnh đó , ma túy còn là nguyên nhân dẫn đến lây truyền những căn bệnh hiểm nghèo, làm suy yếu giống nòi, phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác . Bị cáo là người trưởng thành , nhận thứ c được tác hại của ma túy , sự nghiêm cấm của Nhà nước đối với các hành vi mua bán trái phép chất ma tuý . Tuy nhiên, chỉ vì hám lợi, bị cáo đa liên hê ̣̃

mua chất ma tuý về để bán lại cho người khác. Do đó, cần xử pha ̣t bị cáo mứ c án thâ ̣t nghiêm, tương xứ ng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Xét nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 30/8/2002, bị TAND tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 05 năm tù về tô ̣i “Mua bán trái phép chất ma tuý” ; ngày 29/9/2006, bị TAND huyê ̣n Đứ c Tho ̣ xử pha ̣t 08 tháng tù về tội “Đánh bạc”; ngày 18/9/2017, bị TAND thành phố Vinh xử phạt 09 tháng tù về tội “Đánh ba ̣c”, bị cáo chưa thi hành án do đang kháng cáo bản án.

Bị cáo không có tình tiết tăng nă ̣ng trách nhiê ̣m hinh sự , quá trình điều

̀ tra, truy tố, cũng như tại phiên toà đều khai báo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bản thân b ị cáo đang bị bệnh tiểu đường và cao huyết áp nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy đi ̣nh tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, xét nhân thân, tích chất, mứ c độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bi ̣ cáo ra khỏi xa hội một thời gian để cải tạo, giáo dục vã

̀ phòng ngừa chung.

Về áp dụng hình phạt bổ sung : Tại khoản 5, Điều 194 Bộ luật hình sự quy đi ̣nh hình phạt bổ sung là phạt tiền . Hội đồng xét xử xét thấy , bị cáo là đối tượng không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn đi ̣nh. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bi ̣ cáo.

Về vật chứng: Quá trình điều tra, viê ̣c Cơ quan điều tra đa trã ̉ la ̣i cho Trần Gia H , con trai Trần Ngo ̣c T (theo giấy uỷ quyề n của T ) mô ̣t số đồ vâ ̣t không liên quan đến vu ̣ án là có căn cứ .

Số vật chứng, tài sản thu giữ còn lại cần áp dụng Điều 41 BLHS, Điều 106 BLTTHS để xử lý theo quy định.

Trong vu ̣ án, theo lờ i khai của bị cáo còn có Nguyễn Thanh H là người giớ i thiê ̣u ngườ i mua ma tuý cho bị cáo và cùng đi với bị cáo ra thành phố Vinh để bị cáo mua ma tuý về bán nhưng quá trinh điều tra H không thừ a nhâ ̣n . Cơ

̀

quan điều tra đa nhiều lẫ

̀n triê ̣u tâ ̣p H để làm rõ nhưng H không có mă ̣t ta ̣i đi ̣a phương và cũng không liên la ̣c được . Hiê ̣n nay Cơ quan điề u tra tiếp tu ̣c triê ̣u tâ ̣p H để xác minh làm rõ, nếu có căn cứ se xữ ̉ lý sau.

Đối với người đàn ông tên N (bán ma tuý cho bị cáo) và người đàn ông là bạn của Nguyễn Thanh H (ngườ i se mua ma tuỹ

́ của bi ̣ cáo ), do thông tin bi ̣ cáo cung cấp về những ngườ i này không đủ nên cơ quan điều tra không xác minh được.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm e khoản 3 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tuyên bố bi ̣ cáo Trần Ngo ̣c T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".

Xử phạt bị cáo Trần Ngọc T 15 (Mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam là ngày 07/12/2017 .

2. Về xử lý vật chứ ng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự

̀ năm 1999; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 phong bi màu trắng có ký hiệu M 1 đa đượ̃

c niêm phong, bên ngoài

̀ có các chữ ký của các t hành viên niêm phong, bên trong đựng 40,2515gam Methamphetamine.

+ 01 phong bi màu t rắng có ký hiê ̣u M 2 đa đượ̃

c niêm phong, bên ngoài

̀ có các chữ ký của các thành vi ên tham gia niêm phong, bên trong đựng 99,9322 gam Methamphetamine.

+ 01 mảnh vải màu đỏ đã qua sử dụng, kích thước 45x45cm.

+ 01 túi nilon màu vàng đa qua sữ

̉ du ̣ng.

+ 01 vỏ hộp bánh HURA đa bị bóc dỡ.̃

+ 01 khẩu súng tự chế được cuốn bằng băng dinh màu đen dài 140cm

́ (súng bắn cồn).

+ 01 súng ngắn tự chế bằng kim loại trắng sáng, ốp nhựa ở tay cầm.

+ 08 viên đa ̣n màu đồng, đầu đa ̣n tù.

+ 01 thanh kiếm bằng kim loại, dài 110cm, tay cầm bằng kim loa ̣i màu vàng, vỏ bằng nhựa màu đen.

+ 01 dao nho ̣n bằng kim loa ̣i tự chế , lưỡi dao khoản 30cm được gắn vào 01 ống tuýp kim loại sơn màu xanh dài khoảng 50cm.

+ 01 dụng cụ kích điện màu đen số 928 TYPE đa qua sữ

̉ du ̣ng.

+ 10 dụng cụ sử dụng ma tuý đá (nhiều hinh da ̣ng khác nhau).

̀

+ 01 bình ga mini màu đỏ, có gắn bộ phận khò.

+ 20 ống hút bằng nhựa màu trắng, vàng.

+ 01 hô ̣p đựng điê ̣n thoa ̣i có chữ Samsung Galaxy A7, bên trong đựng các túi nilon chưa sử dụng.

+ 06 bâ ̣t lử a khò, nhiều hinh da ̣ng và màu sắc khác nhau.

̀

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước:

+ 01 ĐTDĐ Nokia 6300 màu đen, số IMEI 352xxx, trong máy có dùng số thuê bao 091xxx, máy đã qua sử dụng.

+ Số tiền 765.000đồng, tiền Ngân hàng Nhà nướ c Viê ̣t Nam.

+ 01 ĐTDĐ Samsung galaxy S 8+ màu đen màn hình cảm ứng , sau máy có ký hiệu DEC 098xxx, trong máy có số thuê bao 097xxx, máy đã qua sử dụng.

- Trả lại cho bị cáo: 01 CMND số 183732224 mang tên Trần Ngo ̣c T.

- Trả lại cho anh Lê Cao N : 01 giấy chứ ng nhâ ̣n đăng ký xe môtô s ố 000878 mang tên Lê Cao N, đi ̣a chi T, huyê ̣̉

n Đ, Hà Tĩnh, BKS 38D1-11xxx.

- Trả lại cho chi ̣ Nguyễn Thi ̣ H : 01 giấy chứ ng nhâ ̣n đăng ký xe môtô số 035xxx mang tên Nguyễn Thi ̣ H, đi ̣a chi khổ

́i 5, phườ ng B, thị xã H, BKS 38H9-8xxx.

(Tình trạng, đặc điểm được ghi trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/5/2018 giữa cơ quan điều tra Công an tỉnh Hà Tĩnh và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh; Giấy nô ̣p tiền vào tài khoản ngày 02/01/2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Tĩnh nộp vào Kho bạc Nhà nước tại tài khoản số 3949.0.9042282).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội . Buộc bị cáo Trần Ngo ̣c T phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng kháng: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mă ̣t có quyền kháng cáo bản án trong thờ i ha ̣n 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoă ̣c kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ