vanban.org

Bản án 19/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 11/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/- Tuyên bố: Bị cáo Nguy n Văn S phạm tội “Vi phạm quy đ nh v đi u khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

2/- Xử phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 202; Điều 60 của Bộ luật hình sự năm 1999; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt: Bị cáo Nguy n Văn S 01 một) năm t nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách 02 hai) năm, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án ngày 11/7/2018). … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Văn S - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? 1/- Tuyên bố: Bị cáo Nguy n Văn S phạm tội “Vi phạm quy đ nh v đi u khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THÁP MƢỜI
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2018/HS-ST
Ngày: 11-7-2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƢỜI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hiến Cƣơng

Các Hội thẩm nhân dân:

1- Ông Lê Văn Vững

2- Ông Nguyễn Văn Ánh

- Thư ký phiên tòa:

Bà Phạm Thị Thi – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Tuấn Kiệt – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án Huyện, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2018/TLST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2018/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2018, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn , sinh năm 1996; HKTT và chỗ ở khu phố 1, thị trấn DĐ, huyện PQ, t nh Kiên Giang; nghề nghiệp tài xế; trình độ văn hóa 09/12; dân tộc kinh; giới tính nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Nguy n Văn X, sinh năm 1973 (còn sống) và bà Ngô Thị Y, sinh năm 1974 (còn sống); vợ, con chưa có; tiền án, tiền sự không; bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

* B hại: Ngô Văn B

- sinh năm 1982. đ chết)

Địa ch : Ấp TP, x TH, huyện TB, Đồng Tháp.

* Người đại diện theo pháp lu t cho b hại:

1. Hu nh Thị Thúy A - sinh năm 1990. có mặt)

Địa ch : Ấp 1, x TL, huyện X, Đồng Tháp.

2. Lê Thị V

- sinh năm 1954.

Địa ch : Ấp TP, x TH, huyện TB, Đồng Tháp.

Bà V ủy quyền cho chị A theo Giấy ủy quyền ngày 27 4 2018 của Văn phòng công ch ng Tr n Thị Thanh Mai).

* Người có quy n l i, ngh a v liên quan:

1. Nguyễn Văn T

- sinh năm: 1993. có mặt)

2. Nguyễn Văn O

- sinh năm: 1967. có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa ch : Ấp CTN, x CD, huyện PQ, t nh Kiên Giang.

* Người làm chứng:

1. Hồ Ngọc Đ

- sinh năm: 1995. có đơn xin xét xử vắng mặt)

2. Hồ Văn G

- sinh năm: 1990. có mặt)

C ng địa ch : Ấp 1, x TL, huyện X, Đồng Tháp.

* Người chứng kiến:

1. Trần Văn H

- sinh năm: 1961. vắng mặt)

2. Nguyễn Thanh TA - sinh năm: 1980. vắng mặt)

C ng địa ch : Ấp 4, x TL, huyện X, Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và di n biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguy n Văn S bị Viện kiểm sát huyện Tháp Mười truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào ngày 01 02 2017, Nguy n Văn S và anh Nguy n Văn T đến nhà của anh Hồ Ngọc Đ địa ch ấp 1, x TL, huyện X) chơi. Tại đây, anh Đ có tổ ch c uống rượu với S và anh T c ng nhiều người khác. Đến khoảng 14 giờ 30 phút, sau khi uống được khoảng 02 chai bia Sài Gòn thì S lên võng nằm ngủ, những người còn lại tiếp tục uống rượu. Đến khoảng 17 giờ, S th c dậy và kêu anh T ngh uống rượu để về nhà ngoại của S ở t nh Vĩnh Long. Do anh T đ say rượu, nên S (có giấy phép lái xe hạng A1) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68P1-304.75 của anh T để chở anh T về. S điều khiển xe trên tuyến t nh lộ 845 theo hướng từ x Thạnh Lợi đi x Trường Xuân, khi đến c u Thạnh Lợi địa ch ấp 4, x Thạnh Lợi, huyện Tháp Mười), S điều khiển xe lấn sang ph n đường phía bên trái để tránh điểm gồ ghề ở mố c u. Khi lên đến nhịp giữa, do chưa kịp lái xe về phía ph n đường bên phải của mình nên xảy ra va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 66F3-2467 do anh Ngô Văn B điều khiển, đang di chuyển theo hướng ngược lại bên ph n đường bên trái theo hướng di chuyển của xe do S điều khiển. Sau khi va chạm, xe mô tô biển kiểm soát 68P1-304.75 do S điều khiển đ đẩy xe mô tô biển kiểm soát 66F3-2467 do anh Ngô Văn B điều khiển trở ngược về hướng x Trường Xuân, cả hai xe ng trên mặt c u và trượt dài tạo nên nhiều dấu vết cày.

Hậu quả anh B bị thương nặng, chuyển cấp c u tại Bệnh viện Chợ Rẫy, đến ngày 05 02 2017 thì tử vong. S bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 52% (Theo Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 37 TgT ngày 01 02 2018 của Trung tâm Pháp Y t nh Đồng Tháp), anh T bị thương nhẹ, hai xe mô tô bị hư hỏng.

Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 02 02 2017 thể hiện:

Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là trên c u Thạnh Lợi, nằm ở nhịp A, B và dưới dốc c u nối với đường nhựa, mặt c u và đường nhựa bằng phẳng, không ổ gà, ổ voi, không bị che khuất t m nhìn, c u được kết cấu bằng xi măng và có chiều dài 37,05m và chia thành 03 nhịp A, B, C), chiều ngang của mặt c u là 3,5m. Mặt đường nhựa có kích thước ngang là 3,3m và có hướng x Trường Xuân đi x Thạnh Lợi và ngược lại.

Lấy mố dốc c u nhịp C của c u Thạnh Lợi làm mốc chuẩn và lấy mép đường bên trái của hướng x Thạnh Lợi đi x Trường Xuân làm lề chuẩn để tiến hành đo đạc.

Xác định tâm v ng va chạm cách lề chuẩn mép đường bên trái của hướng x Thạnh Lợi đi x Trường Xuân) là 1,6m, cách vết cày đ u tiên đánh số 02 tại hiện trường) là 0,4m, đo đến mố dốc c u nhịp C mốc chuẩn) của c u là 23,2m.

Tại Bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 61 TTh-TTPY ngày 05 02 2017 của Trung tâm Pháp Y t nh Đồng Tháp kết luận đối với anh Ngô Văn B như sau:

Dấu hiệu chính qua giám định: G y đốt sống cổ C5, kèm dập tủy cổ đoạn C5-C7. Máu tụ dưới da đ u v ng thái dương trái kích thước 12cm x 04cm. Xuất huyết r i rác hai bán c u, dập n o th y chẩm.

Kết luận nguyên nhân chết: Gẫy đốt sống cổ C5, chấn thương sọ n o.

Thời gian tử vong: Dưới 24 giờ.

Như vậy, nguyên nhân dẫn đến xảy ra tai nạn là do S điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68P1-304.75 đi không đúng ph n đường quy định, lấn sang lề trái va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 66F3-2467, do anh B điều khiển. Hành vi của S đ vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật giao thông đường bộ năm 2008.

Đối với anh T có bị thương tích do tai nạn, nhưng không yêu c u giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể và không yêu c u xử lý đối với S. Đối với xe mô tô biển kiểm soát 68P1-304.75 là do ông Nguy n Văn O đ ng tên giấy đăng ký xe, nhưng đ giao cho anh T quản lý sử dụng.

Về vật chứng:

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tháp Mười đ tạm giữ:

- 01 một) xe mô tô biển kiểm soát 68P1-304.75 nh n hiệu Yamaha, màu xanh xám, số máy 144627.

- 01 một) xe mô tô biển kiểm soát 66F3-2467 nh n hiệu Honda, màu sơn xanh, số máy 0025018.

Về trách nhiệm dân sự:

Đại diện theo pháp luật cho người bị hại B là chị Huỳnh Thị Thúy A, bà Lê Thị V (bà V Ủy quyền cho chị A) yêu c u S bồi thường các khoản sau:

- Tiền chi phí điều trị: 27.339.000 đồng Trong đó: Có hóa đơn ch ng từ là 14.439.000 đồng, tiền xe chuyển viện 12.900.000 đồng không có hóa đơn ch ng từ)

- Tiền chi phí mai táng: 17.100.000 đồng.

- Tiền công lao động của người nuôi bệnh trong 05 ngày, tổng cộng 1.000.000 đồng.

- Tiền tổn thất tinh th n là 121.000.000 đồng.

- Tiền cấp dưỡng cho hai con bị hại B: 422.746.000 đồng

Tổng cộng: 589.185.000 đồng.

S đồng ý bồi thường tiền chi phí điều trị 27.339.000 đồng, chi phí mai táng 17.100.000 đồng, tiền công lao động 1.000.000 đồng. Tổng cộng 45.439.000 đồng. Các khoản tổn thất tinh th n, cấp dưỡng đề nghị xem xét theo quy định của pháp luật. Hiện S đ bồi thường được số tiền là 40.000.000 đồng.

Tại Bản Cáo trạng số 11/CT-VKSTM ngày 13 tháng 4 năm 2018 của Viện kiểm sát huyện Tháp Mười, đ truy tố bị cáo Nguy n Văn S về tội “Vi phạm quy đ nh v đi u khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 của Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 1999).

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Vị đại diện Viện kiểm sát huyện Tháp Mười thực hiện quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội, đ đưa ra những ch ng c , lý lẽ kết tội đối với bị cáo. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, căn c nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về tội danh: Căn c Điều 202 của Bộ luật hình sự năm 1999 đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguy n Văn S phạm tội “Vi phạm quy đ nh v đi u khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

+ Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1 Điều 46; Điều 60 của Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt: Bị cáo Nguy n Văn S từ 12 tháng đến 18 tháng t , nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 36 tháng, tính từ ngày tuyên án.

+ Về trách nhiệm dân sự: Căn c Điều 591 của Bộ luật dân sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử:

Đối với số tiền chi phí điều trị, tiền chi phí mai táng, tiền ngày công lao động, tổng cộng là 45.439.000 đồng. Trong quá trình điều tra, các bên đ tự nguyện thỏa thuận xong, nên chấp nhận.

Đối với yêu c u bồi thường tiền tổn thất tinh th n, căn c vào điều kiện kinh tế của bị cáo, hoàn cảnh và những mất mát, tổn thương của mẹ, vợ và con của người bị hại phải gánh chịu, đối chiếu với quy định của pháp luật dân sự áp dụng m c bồi thường tổn thất tinh th n từ 70.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng, buộc bị cáo S bồi thường là ph hợp.

Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng cho 02 con của anh B, xét tại phiên tòa người đại diện theo pháp luật cho người bị hại là chị A yêu c u bị cáo cấp dưỡng một l n với số tiền 50.000.000 đồng cho 02 con của anh B và bị cáo chấp nhận, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận sự thỏa thuận này.

Bị cáo S và gia đình đ bồi thường tổng cộng là 140.000.000 đồng, trong đó 40.000.000 đồng bồi thường trực tiếp cho gia đình bị hại và đ nộp 100.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười, để bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, nên tiếp tục quản lý số tiền 100.000.000 đồng mà bị cáo đ nộp để đảm bảo thi hành án.

+ Về vật ch ng: Căn c Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử:

- Trả lại cho anh T: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 68P1-304.75 nhãn hiệu Yamaha, màu xanh xám, số máy 144627.

- Trả lại cho chị A: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 66F3-2467 nhãn hiệu Honda, màu sơn xanh, số máy 0025018.

- Bị cáo S khai: Bị cáo có giấy phép lái xe theo quy định, ngày 01/02/2017, bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68P1-304.75 chở anh T trên tuyến t nh lộ 845 theo hướng từ x Thạnh Lợi đi x Trường Xuân, khi đến c u Thạnh Lợi, bị cáo điều khiển xe lấn sang ph n đường phía bên trái để tránh điểm gồ ghề, nên xảy ra va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 66F3-2467 do anh B điều khiển, đang di chuyển theo hướng ngược lại. Hậu quả anh B tử vong. Riêng, bị cáo bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 52%, anh T bị thương nhẹ.

- Người đại diện theo pháp luật cho người bị hại chị Huỳnh Thị Thúy A đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị V) khai: Bị cáo điều khiển xe gây tai nạn cho chồng chị là anh B, hậu quả anh B bị thương nặng và đ chết, để lại cho chị phải nuôi 02 con nhỏ và mẹ già.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguy n Văn T trình bày: Ngày 01 02 017, bị cáo điều khiển xe mô tô chở anh từ x Thạnh Lợi đi x Trường Xuân thì gây tai nạn. Xe mô tô biển kiểm soát 68P1-304.75 do bị cáo điều khiển gây tai nạn là xe của ông O (cha anh T), ông O giao xe cho anh quản lý sử dụng. Nay, anh T yêu c u được nhận lại xe để sử dụng và không yêu c u gì thêm.

Căn c vào các ch ng c và tài liệu đ được thẩm tra tại phiên tòa, căn c vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đ y đủ, toàn diện ch ng c , ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, người đại diện theo pháp luật cho người bị hại và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tháp Mười, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện Tháp Mười, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ thực hiện điều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo S khai nhận: Bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68P1-304.75 đi không đúng ph n đường, lấn sang lề trái dẫn đến va chạm với xe mô tô 66F3-2467 do anh B điều khiển đang di chuyển theo hướng ngược lại, hậu quả anh B tử vong.

Lời khai của bị cáo ph hợp với nội dung Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát, ph hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 02 02 2017, ph hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm ch ng và các tài liệu, ch ng c khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, bị cáo S có giấy phép lái xe nhưng đ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68P1-304.75, đi không đúng ph n đường quy định, lấn sang lề trái, gây tai nạn cho anh B dẫn đến tử vong.

Hành vi của bị cáo đ vi phạm khoản 1 Điều 9 của Luật Giao thông đường bộ năm 2008.

Tại khoản 1 Điều 9 của Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định:

“1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, ph n đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ”.

Từ đó, có đủ căn c kết luận bị cáo Nguy n Văn S đ phạm tội “Vi phạm quy đ nh v đi u khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 202 của Bộ luật hình sự năm 1999, như sau:

“1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho s c khỏe, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt t từ sáu tháng đến năm năm.”

Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là c n thiết và c n có một m c án tương x ng với hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm để phòng ngừa trong toàn x hội nói chung và tại địa phương huyện Tháp Mười nói riêng.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết “Bồi thường thiệt hại, khắc ph c một ph n h u quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” để giảm nhẹ một ph n hình phạt cho bị cáo là ph hợp với điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Đồng thời, khi gây tai nạn bị cáo bị thương tật 52%, bị m mắt trái còn đang điều trị bệnh; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng và nhằm thể hiện bản chất nhân đạo của pháp luật x hội chủ nghĩa, nên cho bị cáo hưởng án treo là ph hợp với Điều 60 của Bộ luật hình sự năm 1999.

Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa, người đại diện theo pháp luật cho người bị hại Ngô Văn B là chị Huỳnh Thị Thúy A, bà Lê Thị V bà V ủy quyền cho chị A) yêu c u bị cáo bồi thường các khoản:

- Tiền chi phí điều trị 27.339.000 đồng.

- Tiền chi phí mai táng 17.100.000 đồng.

- Tiền công lao động cho người nuôi bệnh là 1.000.000 đồng.

- Tiền cấp dưỡng 01 l n cho 02 người con của người bị hại Ngô Văn B cháu Ngô Huỳnh S, sinh ngày 01 11 2012, cháu Ngô Huỳnh I, sinh ngày 08/4/2015) là 50.000.000 đồng.

Bị cáo S đồng ý bồi thường các khoản trên, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Riêng, khoản tiền bồi thường tổn thất tinh th n, người đại diện theo pháp luật cho người bị hại Ngô Văn B là chị A và bị cáo S đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử xét thấy:

Đối với tiền tổn thất tinh th n, xét hiện nay bị cáo bị thương tật với tỷ lệ 52% và bị m mắt trái còn phải điều trị, nên ph n nào ảnh hưởng đến nghề nghiệp của bị cáo, xem xét điều kiện kinh tế của bị cáo và những mất mát, tổn thương mà gia đình người bị hại phải gánh chịu. Do đó, áp dụng Điều 591 của Bộ luật dân sự năm 2015, buộc bị cáo Sơn bồi thường tiền tổn thất tinh th n là 94.561.000 đồng chín mươi bốn triệu năm trăm sáu mươi mốt nghìn đồng) cho người đại diện theo pháp luật cho người bị hại Ngô Văn B là chị Huỳnh Thị Thúy A, bà Lê Thị V.

Bị cáo S và gia đình đ bồi thường tổng cộng là 140.000.000 đồng, trong đó 40.000.000 đồng bồi thường trực tiếp cho gia đình người bị hại và đ nộp 100.000.000 đồng theo biên lai thu số 003657 ngày 29 6 2018 và biên lai thu số 003625 ngày 10/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười). Do đó, tiếp tục quản lý số tiền 100.000.000 đồng này để đảm bảo thi hành án.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Trả lại cho anh Nguy n Văn T: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 68P1-304.75 nh n hiệu Yamaha, màu xanh xám, số máy 144627.

- Trả lại cho chị Huỳnh Thị Thúy A: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 66F3-2467 nh n hiệu Honda, màu sơn xanh, số máy 0025018.

Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười đang quản lý vật ch ng, theo biên bản giao nhận vật ch ng, tài sản ngày 26/6/2018 ).

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con.

Bị cáo, người đại diện theo pháp luật cho người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/- Tuyên bố: Bị cáo Nguy n Văn S phạm tội “Vi phạm quy đ nh v đi u khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

2/- Xử phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 202; Điều 60 của Bộ luật hình sự năm 1999; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt: Bị cáo Nguy n Văn S 01 một) năm t nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách 02 hai) năm, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án ngày 11/7/2018).

Giao bị cáo Nguy n Văn S cho Ủy ban nhân dân thị trấn DĐ, huyện PQ, t nh Kiên Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

3/- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 357 và Điều 591 của Bộ luật dân sự.

- Buộc bị cáo Nguy n Văn S bồi thường số tiền 140.000.000 đồng một trăm bốn mươi triệu đồng) cho người đại diện theo pháp luật của người bị hại Ngô Văn B là chị Huỳnh Thị Thúy A, bà Lê Thị V gồm các khoản sau:

+ Tiền chi phí điều trị 27.339.000 đồng.

+ Tiền chi phí mai táng 17.100.000 đồng.

+ Tiền công lao động cho người nuôi bệnh là 1.000.000 đồng.

+ Tiền tổn thất tinh th n 94.561.000 đồng.

Nhưng được trừ số tiền 140.000.000 đồng mà bị cáo và gia đình đ khắc phục (40.000.000 đồng bồi thường trực tiếp cho gia đình người bị hại và đ nộp 100.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười). Do đó, tiếp tục quản lý số tiền 100.000.000 đồng này để đảm bảo thi hành án theo biên lai thu số 003657 ngày 29 6 2018 và biên lai thu số 003625 ngày 10 7 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười).

- Tiền cấp dưỡng 01 l n cho 02 người con của người bị hại Ngô Văn B cháu Ngô Huỳnh S, sinh ngày 01 11 2012, cháu Ngô Huỳnh I, sinh ngày 08 4 2015) là 50.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu c u thi hành án của người được thi hành án mà bên phải thi hành án chưa thi hành án xong số tiền trên, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền l i bằng 50% m c l i suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ng với thời gian chưa thi hành án đến khi thi hành án xong.

4/- Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Trả lại cho anh Nguy n Văn T: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 68P1-304.75 nh n hiệu Yamaha, màu xanh xám, số máy 144627.

- Trả lại cho chị Huỳnh Thị Thúy A: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 66F3-2467 nh n hiệu Honda, màu sơn xanh, số máy 0025018.

Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười đang quản lý vật ch ng, theo biên bản giao nhận vật ch ng, tài sản ngày 26 6 2018 ).

5/- Về án phí: Áp dụng Điều 23, Điều 26 và Điều 27 của Nghị quyết số 326 2016 UBTVQH14 ngày 30 12 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về m c thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguy n Văn S phải chịu 200.000 đồng hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.

Bị cáo, người đại diện theo pháp luật cho người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án t nh Đồng Tháp trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguy n Văn Thới có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án t nh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án tại nơi cư trú.

Trường h p bản án, quyết đ nh đư c thi hành án theo quy đ nh tại Đi u 2 của Lu t Thi hành án dân sự thì người đư c thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quy n thỏa thu n thi hành án, quy n yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các Đi u 6, 7 và Đi u 9 của Lu t Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy đ nh tại Đi u 30 của Lu t Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ