- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2018/ HS-ST Ngày 04/5/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG - TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ma Quang Nhanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà: Nguyễn Thị Chuyên
2. Bà: Đặng Thị Đào
-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hương Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 5 năm 2018, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Phú Lương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 16/2018/ HSST, ngày 09 tháng 4 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2018/QĐXXST- HS ngày 17 tháng 4 năm 2018, đối với bị cáo:
Nguyễn Xuân T, sinh ngày 10/6/1975.
ĐKHKTT: thôn 6, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 4/12; con ông: Nguyễn Xuân D, đã chết; con bà: Nguyễn Thị N, SN 1940; gia đình có 09 anh chị em, bị cáo là con thứ 6; có vợ là Nguyễn Thị L, SN 1978; có 01 con chung sinh năm 2000. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 11/01/2018 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
-Người chứng kiến: Ông Hoàng Đăng Đ – Sinh năm 1950, trú tại: xóm B, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 20 phút ngày 11 tháng 01 năm 2018, tại khu vực xóm 9, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Tổ công tác Công an huyện P phối hợp với công an xã Cổ Lũng bắt quả tang Nguyễn Xuân T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; thu giữ trong lòng bàn tay phải của T 03 gói chất bột màu trắng, nghi là ma túy loại heroine, được gói bên ngoài bằng giấy bạc màu vàng; 02 xi lanh nhựa loại 03 ml, một ống nước cất. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định.
Cùng ngày cân xác định chất bột màu trắng thu giữ của T có trọng lượng là 0,317 gam.
Tại bản kết luận giám định số 267/KL-PC 54 ngày 18 tháng 01 năm 2018 của phòng KTHS - Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận số chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Xuân T là ma túy loại Heroine có khối lượng 0,317 gam.
Tại cơ quan điều tra T khai: Bản thân nghiện ma túy. Khoảng 12 giờ ngày 11/01/2018, T đi xe ô tô khách đến khu vực: Xóm 9, xã C, huyện P tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân, T gặp một người nam giới (Không biết tên tuổi địa chỉ), T mua của người này 200.000 đồng được 03 gói ma túy, số ma túy này được gói bên ngoài bằng giấy bạc màu vàng, 02 xi lanh nhựa loại 0,3 ml, 01 ống nước cất. T cầm số ma túy trong lòng bàn tay phải đang tìm nơi sử dụng thì bị bắt quả tang thu giữ vật chứng như nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 18/CT- VKSPL ngày 06/4/2018, Viện Kiểm sát nhân huyện P truy tố bị cáo Nguyễn Xuân T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P trình bày lời luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015, xử phạt Nguyễn Xuân T từ 18 đến 24 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về vật chứng: Xử lý theo quy định tại khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cở sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét về hành vi của bị cáo: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang cũng như các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, do vậy có đủ căn cứ để xác định: Hồi 12 giờ 20 ngày 11 tháng 01 năm 2018, tại khu vực xóm 9, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Nguyễn Xuân T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,317 gam ma túy loại heroine, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang.
Do đó, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện P truy tố bị cáo Nguyễn Xuân T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy... thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
a)……
c) Heroine…….có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05 gam”.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền về ma túy của Nhà nước, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Ma túy là nguyên nhân dẫn đến căn bệnh thế kỷ và các loại tội phạm khác, bị cáo nhận thức rõ về điều đó nhưng vẫn cố tình lén lút mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Việc đưa bị cáo ra truy tố và xét xử là cần thiết để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy: Bị cáo tuy chưa có tiền án, tiền sự nhưng là đối tượng nghiện chất ma túy dẫn đến phạm tội. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 BLHS. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, thấy trước được sự trừng phạt nghiêm khắc của pháp luật, nhưng vẫn cố tình vi phạm bất chấp hậu quả. Điều đó cho thấy ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo rất kém, nên cần buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian, nhằm giúp bị cáo cai nghiện ma túy và phấn đấu cải tạo thành người lương thiện.
Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
Bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử miễn không áp dụng hình phạt bổ sung tại khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án: Số ma túy sau khi tách một phần để giám định Nhà nước cấm lưu hành; 02 xi lanh; 03 ống nước cất không còn giá trị sử dụng. Số vật chứng này cần tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015; khoản 2 Điều 106; 135; 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí tòa án:
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1.Xử phạt: bị cáo Nguyễn Xuân T 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/01/2018.
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2. Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 bì niêm phong ký hiệu A1, A2 (Biên bản giao nhận số 24 ngày 27/ 4/2018 giữa Công an và Thi hành án dân sự huyện P)
3. Án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKS H. Phú Lương; - Công an H. Phú Lương; - Chi cục THADSHPL; - TAND tỉnh TN; - Sở tư pháp tinh TN; - UBND xã P; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Ma Quang Nhanh |