- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Văn S - Lý Thị K - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố các bị cáo Lý Văn S và Lý Thị K phạm tội “Hủy hoại rừng”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2018/HS - ST Ngày 27/11/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Thanh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lƣờng Văn Xiên
Bà Ma Thị Lƣu
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Lộc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Pác
Nặm, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn tham
gia phiên tòa: Ông Triệu Xuân Trìu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 11 năm 2018, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân
huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2018/TLST-HS, ngày 07 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2018/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2018 đối với các bị cáo:
1. Lý Văn S- Tên gọi khác: Không
Sinh ngày 11 tháng 7 năm 1988 tại huyện P, tỉnh Bắc Kạn.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã A, huyện P, tỉnh Bắc
Kạn.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: Lớp 4/12; dân tộc: Dao; giới tính:
Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch Việt Nam; con ông Triệu Chàn P và bà Triệu Mùi P; Vợ Lý Thị K: Có 02 con. Con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2008.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/8/2018 đến
nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Lý Thị - Tên gọi khác: Không
Sinh ngày 23 tháng 9 năm 1988 tại huyện P, tỉnh Bắc Kạn.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã A, huyện P, tỉnh Bắc
Kạn.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Dao; giới tính:
Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch Việt Nam; con ông Lý Văn T và bà Lý Mùi P; Chồng là Lý Văn S: Có 02 con. Con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2008.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/9/2018 đến
nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Ngƣời bào chữa cho bị cáo Lý Văn S và Lý Thị K: Bà Nguyễn Phương B
- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn. Có mặt
- Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bắc Kạn
Người đại diện theo pháp luật: Ông Vi Duy T - Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P. Vắng mặt
Người đại diện theo ủy quyền: Ông La Đức D - Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện P. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Bàn Thị V, sinh năm 1983 - Trú tại: Thôn N, xã A, huyện P, tỉnh Bắc
Kạn. Có mặt.
- Chị Hoàng Thị N, sinh năm 1988 - Trú tại: Thôn N, xã A, huyện P, tỉnh
Bắc Kạn. Có mặt.
- Anh Sào Văn H, sinh năm 1989 - Trú tại: Thôn N, xã A, huyện P, tỉnh
Bắc Kạn. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 10 tháng 5 năm 2018 Công an huyện Pác Nặm nhận được công văn
chuyển tin báo số 62/CTB-KL ngày 09 tháng 5 năm 2018 của Hạt Kiểm lâm huyện P với nội dung có nhiều hộ dân phát phá rừng trái phép tại xã Thôn N, xã A, huyện P, tỉnh Bắc Kạn.
Trên kết quả điều tra xác định được như sau:
Tại lô 6, khoảnh 9, tiểu khu 31 của bản đồ quy hoạch ba loại rừng thuộc
thửa đất 187, tờ bản đồ số 02 bản đồ giao đất đất lâm nghiệp ở địa danh Cống Đôi, thôn Thôn N, xã A, huyện P, tỉnh Bắc Kạn, Lý Văn S và Lý Thị K trú tại thôn Thôn N, xã A, huyện P, tỉnh Bắc Kạn đã có hành vi hủy hoại rừng với diện tích là 5.270 m2 (Năm nghìn hai trăm bảy mươi mét vuông) rừng sản xuất có trạng thái là rừng tự nhiên phục hồi, gây thiệt hại 252 cây gỗ từ nhóm V đến nhóm VIII với khối lượng gỗ 33,464 m3 (Ba ba phẩy bốn sáu bốn mét khối).
Tại cơ quan điều tra Lý Văn S và Lý Thị K khai nhận.
Năm 2015 gia đình được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất 23.413,7m2 (Hai mươi ba nghìn bốn trăm mười ba phẩy bẩy mét vuông) đất rừng sản xuất tại thửa số 187 tờ bản đồ số 02 thuộc C, Thôn N, xã A, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Năm 2016 đăng ký thiết kế và được cấp phép trồng rừng 10.000m2 tại vị trí Lô a của thửa đất số 187 nói trên, nhưng chỉ phát và trồng 6.000m2 cây Keo, diện tích trồng này đã được Hạt kiểm lâm huyện P và Ủy ban nhân dân xã A nghiệm thu, thanh toán và trả tiền công trồng chăm sóc với số tiền 4.971.546 đồng, còn 4.000m2 Sinh không phát theo thiết kế mà để nguyên hiện trạng rừng như lúc chưa thiết kế trồng rừng nên không được nghiệm thu.
Khoảng đầu tháng 4/2018 (không nhớ ngày cụ thể) do có mục đích phát
rừng để trồng cây keo, thấy diện tích rừng chưa phát phá của thửa đất số 187 tờ bản đồ số 02 của gia đình mình còn nhiều, nên Lý Văn S đã bàn bạc và thống nhất với Lý Thị K, tiếp tục phát phá nốt phần còn lại của diện tích rừng đã được thiết kế năm 2016 chưa phát phá để trồng cây Keo thì K đồng ý, S và K đến khu rừng nhà mình nhưng không xác định vị trí cụ thể diện tích rừng đã được thiết kế năm 2016, mỗi người sử dụng một con dao quắm phát cây bụi rậm, cây dây leo, và cây nhỏ vào chiều ngày hôm trước, thấy diện tích rừng cần phát còn nhiều nên Lý Văn S đã thuê chị Bàn Thị V và Hoàng Thị N đều trú tại thôn Thôn N, xã A, huyện P đi phát thuê cho một ngày hôm sau. Chị Bàn Thị V, Hoàng Thị N cùng Lý Thị K mỗi người dùng một con dao quắm đi phát cây bụi rậm, dây leo, còn Lý Văn S dùng máy cưa xăng loại cầm tay mượn của anh Sào Văn H là người cùng thôn, đi phía sau để cắt hạ những cây thân gỗ to trên diện tích rừng đã được phát quang, S và K cùng chị V, chị N làm đến hết ngày hôm sau, thấy diện tích đã đủ rộng nên thôi không làm nữa và chờ cho cây khô sẽ đốt để vệ sinh rừng và trồng rừng.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 14/5/2018 của Cơ quan Cảnh
sát điều tra Công an huyện Pác Nặm xác định: Hiện trường vụ huỷ hoại rừng tại lô 6, khoảnh 9, tiểu khu 31 của bản đồ quy hoạch ba loại rừng thuộc thửa đất 187, tờ bản đồ số 02 bản đồ giao đất đất lâm nghiệp thuộc thôn Thôn N, xã A, huyện P là rừng sản xuất có trạng thái rừng tự nhiên phục hồi, theo Bản đồ quy hoạch ba loại rừng được Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn phê duyệt tại Quyết định số 757/2007/QĐ-UBND ngày 21/5/2007. Vị trí diện tích rừng bị hủy hoại, phía Đông tiếp giáp với rừng của gia đình Lý Văn S; Phía Tây tiếp giáp với khe cạn; Phía Nam tiếp giáp với rừng của gia đình Lý Văn S và của ông Sào Văn P; phía Bắc tiếp giáp với rừng của bà Sào Thị N. Trên bề mặt diện tích rừng bị chặt hạ phát hiện nhiều cây thân gỗ với nhiều nhóm gỗ khác nhau đã bị cắt đổ ngổn ngang về nhiều hướng, các vết cắt này đều sắc gọn có để lại phần gốc nhô lên trên mặt đất với nhiều kích cỡ khác nhau; Tiến hành đo diện tích rừng bị hủy hoại, sử dụng máy định vị vệ tinh GPS78 CSX, hệ toạ độ Vn-2000, máy đo do Hạt kiểm lâm huyện P cung cấp xác định diện tích rừng bị chặt hạ là 5.270m2 (Năm nghìn hai trăm bảy mươi mét vuông); Số cây gỗ bị chặt hạ có chu vi (vòng dây) nhỏ nhất từ 24 cm trở lên là 252 cây = 33,464 m3 (Ba mươi ba phẩy bốn sáu bốn mét khối)
Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 03/KL-HĐĐGTSVV ngày 14/6/2018
của Hội đồng định giá tài sản huyện Pác Nặm kết luận: 33,464 m3 (Ba mươi ba phẩy bốn sáu bốn) mét khối gỗ từ nhóm V đến nhóm VIII có tổng giá trị là: 25.516.300 đồng (Hai mươi lăm triệu, năm trăm mười sáu nghìn, ba trăm đồng).
Trong quá trình giải quyết vụ án bị cáo Lý Văn S và Lý Thị K đã tự
nguyện nộp mỗi người 1.000.000đ (Một triệu đồng) vào Chi cục thi hành án dân sự huyện P nhằm khắc phục một phần thiệt hại.
Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKSPN ngày 05/11/2018, Viện kiểm sát nhân
dân huyện P truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm để xét xử Lý Văn S và Lý Thị K về hành vi "Hủy hoại rừng" theo điểm b khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng
như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm giữ nguyên quan điểm
truy tố như bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lý Văn S và Lý Thị K phạm tội “Hủy hoại rừng”.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243 BLHS 2015; điểm b, m, s khoản 1,
khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lý Văn Sinh từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo có đơn xin miễn án phí do vậy đề nghị miễn án phí cho bị cáo.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243 BLHS 2015; điểm b, i, m, s khoản 1,
khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 17; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lý Thị K từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo có đơn xin miễn án phí do vậy đề nghị miễn án phí cho bị cáo.
Tại phiên toà người bào chữa cho bị cáo nhận thấy việc xét xử các bị cáo
về tội “Hủy hoại rừng” là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, các bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn nhận thức về pháp luật còn hạn chế dẫn đến phạm tội vì năm 2016 các bị cáo đã được cấp phép trồng rừng diện tích 10.000m2 nhưng mới phát rừng trồng được 6.000m2 còn lại 4.000m2 chưa được phát rừng để trồng do vậy các bị cáo nghĩ là đi phát phần đất rừng đã được cấp phép năm 2016 để trồng rừng mới dẫn đến phạm tội, bị cáo K là đồng phạm giữ vai trò thứ yếu, các bị cáo đã tự nguyện nộp tiền để bồi thường khắc phục hậu quả, người đại diện của nguyên đơn dân sự có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo Lý Văn S được hưởng 04 tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, m, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, cho bị cáo Lý Thị Khe được hưởng 05 tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, i, m, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 để xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ
vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án
đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
.Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong
quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội
của mình, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có cơ sở kết luận:
Đầu tháng 4/2018 (không nhớ ngày cụ thể) do có mục đích phát rừng để
trồng cây keo, thấy diện tích rừng chưa phát phá của thửa đất số 187 tờ bản đồ số 02 của gia đình mình còn nhiều, nên Lý Văn S đã bàn bạc và thống nhất với Lý Thị K, tiếp tục phát phá nốt phần còn lại của diện tích rừng đã được thiết kế năm 2016 chưa phát phá để trồng cây Keo thì K đồng ý, S và K đến khu rừng nhà mình nhưng không xác định vị trí cụ thể diện tích rừng đã được thiết kế năm 2016, mỗi người sử dụng một con dao quắm phát cây bụi rậm, cây dây leo, và cây nhỏ vào chiều ngày hôm trước, thấy diện tích rừng cần phát còn nhiều nên Lý Văn S đã thuê chị Bàn Thị V và Hoàng Thị N đều trú tại Thôn N, xã A, huyện P đi phát thuê cho một ngày hôm sau. Chị Bàn Thị V, Hoàng Thị N cùng Lý Thị K mỗi người dùng một con dao quắm đi phát cây bụi rậm, cây dây leo và cây nhỏ trước, còn Lý Văn S dùng máy cưa xăng loại cầm tay mượn của anh Sào Văn H là người cùng thôn, đi phía sau để cắt hạ những cây thân gỗ to trên diện tích rừng đã được phát quang, S và K cùng chị V, chị N làm đến hết ngày hôm sau, thấy diện tích đã đủ rộng để trồng Keo nên thôi không làm nữa và chờ cho cây khô sẽ đốt để vệ sinh rừng và trồng rừng.
Hậu quả diện tích rừng bị chặt hạ là 5.270m2 (Năm nghìn hai trăm bảy
mươi mét vuông); Số cây gỗ bị chặt hạ có chu vi (vòng dây) nhỏ nhất từ 24 cm trở lên là 252 cây = 33,464 m3 (Ba mươi ba phẩy bốn sáu bốn mét khối) gỗ từ nhóm V đến nhóm VIII có tổng giá trị là 25.516.300 đồng (Hai mươi lăm triệu, năm trăm mười sáu nghìn, ba trăm đồng).
Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại rừng” với tình
tiết định khung là hủy hoại rừng sản xuất có diện tích từ 5.000m2 đến dưới 10.000m2
Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về
khai thác và bảo bệ rừng, xâm hại đến sự ổn định và bền vững của môi trường sinh thái. Khi thực hiện hành vi các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Hủy hoại rừng” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Điều luật có nội dung:
1. Người nào đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác hủy hoại rừng
thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…………………….…
b) Rừng sản xuất có diện tích từ 5.000 mét vuông (m2) đến dưới 10.000
mét vuông (m2);
……………………..…
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến
100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
.Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Đối với bị cáo Lý Văn S: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần
đầu. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo đã tự nguyện khắc phục một phần hậu quả, bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn, không được đi học hết phổ thông, nhận thức về pháp luật rất hạn chế dẫn đến phạm tội do lạc hậu, người được nguyên đơn dân sự ủy quyền có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, m, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Đối với bị cáo Lý Thị K: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần
đầu. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo chỉ được phát cây bụi và dây leo do vậy xác định bị cáo là người có vai trò thứ yếu trong vụ án nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn, không được đi học hết phổ thông, nhận thức về pháp luật rất hạn chế dẫn đến phạm tội do lạc hậu, người được nguyên đơn dân sự ủy quyền có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, m, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
- Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, căn cứ vào tính chất và mức độ
nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, các quy định của pháp luật. HĐXX xét thấy, không cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà vẫn đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo tính giáo dục cải tạo và phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: Căn cứ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả
điều tra, xác minh cho thấy gia đình bị cáo thuộc đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn dân sự vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt và có yêu cầu các bị cáo phải bồi thường, khắc phục hậu quả mỗi người 1.000.000đ, các bị cáo nhất trí bồi thường, khắc phục hậu quả số tiền theo yêu cầu, tại phiên tòa các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận về việc bồi thường. Xét thấy việc thỏa thuận không trái pháp luật và hoàn toàn do hai bên tự nguyện nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị cáo Lý Văn S và Lý Thị K đã tự
nguyện nộp mỗi người 1.000.000đ (Một triệu đồng) vào Chi cục thi hành án dân sự huyện Pác Nặm nhằm khắc phục một phần thiệt hại. Xét thấy cần tạm giữ số tiền này để đảm bảo thi hành án.
. Về vật chứng của vụ án:
- 252 cây gỗ = 33,464 m3 (Ba mươi ba phẩy bốn sáu bốn mét khối gỗ).
Ngày 01/10/2018 Cơ quan điều tra Công an huyện Pác Nặm đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức tịch thu bán đấu giá sung công quỹ Nhà nước.
- 01 (Một) con dao (loại dao quắm) dao đã qua sử dụng, có cán dao bằng
gỗ dài 14 cm, thân dao dài 34,5cm, bản rộng 05cm; 01 (Một) con dao (loại dao quắm) chiều dài thân dao 31,5cm, bản rộng 3,5cm đã qua sử dụng, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Chiếc máy cưa xăng mà Sào Văn H cho bị cáo Lý Văn S mượn để cưa
cây nhưng do máy hỏng nên đã bán phế liệu không thu hồi được, do vậy không có căn cứ xử lý.
. Đánh giá về quan điểm truy tố, đề nghị của Viện kiểm sát: Đại diện
Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn tại phiên tòa giữ nguyên Quyết định truy tố như nội dung bản Cáo trạng, quan điểm truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ. Mức hình phạt của Viện kiểm sát đề nghị tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra.
Đánh giá việc người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình
tiết giảm nhẹ của các bị cáo để áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho các bị cáo được hưởng án treo. Hội đồng xét xử nhận định đề nghị của người bào chữa là có căn cứ do vậy được xem xét.
Xem xét, đánh giá hành vi của những người liên quan.
Đối với chị Bàn Thị V, Hoàng Thị N là những người được các bị cáo thuê
phát phần cây bụi và dây leo, và anh Sào Văn H được cho bị cáo S mượn chiếc cưa xăng, tuy nhiên bản thân chị V, chị N và anh H không biết các bị cáo phát phá rừng khi chưa được thiết kế trồng rừng nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý trách nhiệm hình sự là có cơ sở.
Về án phí: Căn cứ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả điều tra,
xác minh cho thấy gia đình bị cáo thuộc đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và bị cáo có đơn xin Hội đồng xét xử miễn án phí. Do vậy cần miễn án phí sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Tuyên bố các bị cáo Lý Văn S và Lý Thị K phạm tội “Hủy hoại rừng”
[2]. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243, điểm b, m, s khoản 1, khoản 2
Điều 51, Điều 17; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Lý Văn S 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo,
thời gian thử thách là 24 (Hai mươi tư) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
[3] Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243, điểm b, i, m, s khoản 1, khoản 2
Điều 51, Điều 54; Điều 17; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Lý Thị K 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời
gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Lý Văn S và Lý Thị K cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện
P, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được cho hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa
vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
Công nhận sự thỏa thuận giữa các bị cáo với người được nguyên đơn dân sự ủy
quyền:
Áp dụng Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Lý Văn S phải bồi thường cho nguyên đơn dân sự là UBND huyện P với
số tiền thỏa thuận là 1.000.000đ (Một triệu đồng), được trừ vào số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) mà bị cáo S đã nộp tại biên lai thu tiền số 00862, ngày 09/11/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Bắc Kạn
Buộc bị cáo Lý Thị K phải bồi thường cho nguyên đơn dân sự là UBND huyện Pác
Nặm với số tiền thỏa thuận là 1.000.000đ (Một triệu đồng), được trừ vào số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) mà bị cáo K đã nộp tại biên lai thu tiền số 00870, ngày 26/11/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Bắc Kạn.
Tạm giữ số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng) mà bị cáo S và bị cáo K đã nộp tại biên
lai thu tiền số 00862, ngày 09/11/2018 và biên lai thu tiền số 00870, ngày 26/11/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Bắc Kạn để đảm bảo thi hành án.
Việc thi hành án được thực hiện theo Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015
“Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số
tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các
bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015”
[5]. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, khoản 2
Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:
- 01 (Một) con dao (loại dao quắm) dao đã qua sử dụng, có cán dao bằng
gỗ dài 14 cm, thân dao dài 34,5cm, bản rộng 05cm;
- 01 (Một) con dao (loại dao quắm) chiều dài thân dao 31,5cm, bản rộng
05cm đã qua sử dụng.
(Số lượng, tình trạng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/11/2018
giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn và Chi cục thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Bắc Kạn).
[6]. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo Lý Văn S
và bị cáo Lý Thị K.
[7]. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa, có
quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhân:
| - VKSND huyện Pác Nặm. (01b) - TAND tỉnh Bắc Kạn. (01b) - VKSND tỉnh Bắc Kạn.(01b) - Bộ phận hồ sơ CA huyện Pác Nặm. (03b) - Chi cục THADS huyện Pác Nặm. (01b) - Sở Tư pháp. (01b) - Nguyên đơn dân sự. (01b) - Người được nguyên đơn dân sự ủy quyền (01b) - Bị cáo. (02b) - Người bào chữa. (01b) - Người có QL,NVLQ. (03b) - Lưu hs; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thanh Tuấn |