vanban.org

Bản án 19/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 21/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh, hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Khà Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Xử phạt bị cáo Khà Văn H 13 tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 25/12/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Khà Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh, hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MAI CHÂU
TỈNH HOÀ BÌNH
–––––––––––
Bản án số: 19/2018/HS-ST
Ngày: 21 - 5 - 2018.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hà Bá Khiên

Ông Nguyễn Đức Soát

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Thế Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2018/TLST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2018/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Khà Văn H, sinh ngày 25 tháng 7 năm 1983, tại huyện M, tỉnh Hòa Bình; nơi cư trú: Xóm T, xã X, huyện M, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 0/12; Dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Khà Văn Đ, sinh năm 1950 và bà Hà Thị Kh, sinh năm 1952, có vợ là Vì Thị H, sinh năm 1988 và có 02 con; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử lý hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật lần nào; bị cáo bị tạm giữ ngày 25/12/2017 chuyển tạm giam ngày 03/01/2018. Có mặt.

Người làm chứng: Nguyễn Hồng Ph, sinh năm 1968; nơi cư trú: Tiểu khu b, thị trấn M, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 25/12/2017, Tổ công tác Công an huyện M đang làm nhiệm vụ tại khu vực xóm V, thị trấn M, huyện M, tỉnh Hòa Bình phát hiện Khà Văn H điều khiển xe mô tô BKS 29Z6 - 4605 của chị Vì Thị H, sinh năm 1988, trú tại xóm T, xã X, huyện M, tỉnh Hòa Bình theo hướng thị trấn M – Tòng Đậu có biểu hiện nghi vấn nên đã dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện bên trong túi áo khoác bên trái H đang mặc có 01 (một) gói nilon màu xanh, lớp tiếp theo là giấy trắng có dòng kẻ ô ly, bên trong chứa chất bột dạng cục là Heroine có khối lượng 0,13 (không phẩy mười ba) gam. Cơ quan điều tra đã lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản niêm phong vật chứng, đưa Khà Văn H về trụ sở để tiếp tục điều tra làm rõ. H khai nhận Heroine Tổ công tác thu giữ được là của H, do H mua được từ anh Nguyễn Hồng Ph, sinh năm 1968, trú tại Tiểu khu b, thị trấn M, huyện M, tỉnh Hòa Bình, mục đích H mua số Heroine trên là để sử dụng cho bản thân. Ngoài ra Khà Văn H còn khai trước đó đã được mua Heroine của Nguyễn Hồng Ph vào khoảng đầu tháng 9/2017 một gói với giá 100.000 đồng H đã sử dụng hết.

Tại bản Kết luận giám định số 28/KLGĐ-CAT-PC54 ngày 30 tháng 12 năm 2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình kết luận: Mẫu chất bột màu trắng dạng cục trong phong bì niêm phong ghi tên Khà Văn H gửi giám định có khối lượng 0,13 gam là chất ma túy, loại Heroine.

Tại bản cáo trạng số 18/CT-VKSMC ngày 03/4/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu truy tố Khà Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh, hình phạt: Đề nghị tuyên bị cáo Khà Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt Khà Văn H từ 12 đến 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 25/12/2017.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định, không có tài sản gì có giá trị, nên không có khả năng thi hành. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án:

- Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tuyên tịch thu toàn bộ số ma túy thu được, sau khi giám định còn lại đã hoàn trả, để tiêu hủy.

- Đối với chiếc xe mô tô BKS 29Z6 - 4605 thuộc sở hữu hợp pháp của Vì Thị H, sinh năm 1988, trú tại xóm T, xã X, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Việc Khà Văn H điều khiển xe mô tô BKS 29Z6 - 4605 đi mua Heroine về sử dụng chị H không biết. Ngày 27/02/2018, Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô BKS 29Z6 - 4605 cho chị H là đúng pháp luật nên không đề nghị xử lý.

Về các vấn đề khác:

- Đối với Nguyễn Hồng Ph là người mà bị cáo Khà Văn H khai đã bán chất ma túy cho bị cáo ngày 25/12/2017 và đầu tháng 9/2017, nhưng quá trình điều tra và tại phiên tòa không chứng minh được Nguyễn Hồng Ph đã bán ma túy cho bị cáo nên không có căn cứ đề nghị xử lý về hình sự đối với Nguyễn Hồng Ph.

- Đề nghị áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Ý kiến của bị cáo: Tôi đã nhận được đầy đủ các văn bản tố tụng của cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án, quá trình điều tra, truy tố xét xử tôi đã được phổ biến quyền và nghĩa vụ của mình, không bị ép cung, mớm cung, tôi đồng ý với nội dung cáo trạng và Quyết định đưa vụ án ra xét xử không thắc mắc gì. Nguyên nhân dẫn đến phạm tội là do tôi nghiện ma túy nên đã mua, tàng trữ để sử dụng. Tôi đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải mong được giảm nhẹ tội.

Ý kiến của người làm chứng: Nguyễn Hồng Ph vắng mặt tại phiên tòa, tại cơ quan điều tra đã có ý kiến, lời khai có nội dung: Không thừa nhận đã bán chất ma túy cho bị cáo Khà Văn H vào ngày 25/12/2018 và vào đầu tháng 9/2017. Đến nay Nguyễn Hồng Ph không có ý kiến thay đổi lời khai, bổ sung lời khai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về pháp luật áp dụng: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo thực hiện trước ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực. Tuy nhiên tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, quy định hình phạt nhẹ hơn Điều 194 tội tàng trữ trái phép chất ma túy Bộ luật Hình sự năm 1999. Ngoài ra các tình tiết giảm nhẹ, tù có thời hạn quy định tại Điều 51; 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định có những điểm mới theo hướng có lợi và Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 về tịch thu tiêu hủy đối với vật nhà nước cấm tàng trữ không gây bất lợi cho người phạm tội nên cần áp dụng đồng bộ Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo trong vụ án này, theo quy định của Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội.

Những chứng cứ xác định có tội:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng, như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. phù hợp với lời khai trong các Biên bản ghi lời khai, Biên bản hỏi cung bị can của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu được và kết luận giám định cùng toàn bộ các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 25/12/2017, Khà Văn H có hành vi tàng trữ trong túi áo khoác đang mặc 01 gói Heroine có khối lượng 0,13 gam. Bị bắt quả tang tại khu vực xóm V, thị trấn M, huyện M.

Chứng cứ xác định không có tội: Không có.

Xét tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội:

Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, biết rõ tác hại của ma tuý đối với bản thân, gia đình và xã hội, trong khi Nhà nước và toàn thể xã hội đang tìm mọi biện pháp đẩy lùi tệ nạn ma tuý ra khỏi cộng đồng bởi tác hại rất lớn của nó, bị cáo biết rõ điều đó. Song vì cần có chất ma tuý để sử dụng cho bản thân nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội để thỏa mãn lối sống của mình.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý Nhà nước về chất ma túy. Như vậy có đủ căn cứ xác định bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, tạm giam sau khi tuyên án và về các vấn đề khác mà đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã có ý kiến đề nghị nêu trên. Xét thấy có căn cứ phù hợp quy định pháp luật cần xử lý, giải quyết theo hướng đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh, hình phạt:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015

- Tuyên bố bị cáo Khà Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

- Xử phạt bị cáo Khà Văn H 13 tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 25/12/2017.

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Heroine còn lại sau khi giám định, được niêm phong trong 01 phòng bì.

(Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tình trạng đặc điểm vật chứng được ghi trong Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 19/THA ngày 11/4/2018 giữa bên giao Công an huyện M, bên nhận Chi cục Thi hành án dân sự huyện M).

3. Về án phí:

Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

- Bị cáo Khà Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án.

Cỡ chữ