- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? 1/Về quan hệ hôn nhân : Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 luật Hôn nhân gia đình, xử cho chị Nguyễn Thị Hoài T và anh Hồ Tá P được ly hôn nhau
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY TỈNH QUẢNG BÌNH —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19 /2018/HNGĐ-ST Ngày 13 - 6-2018 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dương
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Ngọc Anh
Ông Trương Quang Huy
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Diệu Linh, Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
Ngày 13 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 44/2018/TLST-HNGĐ ngày 14/3/2018 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hoài T, sinh năm 1973
Trú tại: Thôn M, xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình, có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Anh Hồ Tá P, sinh năm 1971
Trú tại: Thôn M, xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn ly hôn ngày 14/3/2018 và bản tự khai ngày 29/3/2018 tại phiên tòa thì nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hoài T trình bày: Chị và anh Hồ Tá P lấy nhau tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 22/11/1996 tại UBND xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng về sống với bố mẹ anh P được 01 năm thì ra làm nhà ở riêng tại thôn M , xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh P thường xuyên uống rượu bia say xỉn về đánh đập nhiều lần mặc dù chị đã khuyên ngăn nhiều lần nhưng anh P vẫn không sửa chữa. Chị nhận thấy cuộc sống vợ chồng không thể tiếp tục, mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, vợ chồng sống với nhau không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin ly hôn anh Hồ Tá P.
Về quan hệ con cái : Chị và anh Hồ Tá P có một con chung là Hồ Tá P, sinh ngày 22/7/2005 con hiện đang sống với chị. Sau khi ly hôn thì chị có nguyện vọng xin được nuôi con, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.
Về quan hệ tài sản: Vợ chồng tự thỏa thuận phân chia không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Hồ Tá P: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo việc thụ lý vụ án, đồng thời triêu tập anh đến Tòa án và Ủy ban nhân dân xã M nhiều lần để giải quyết việc chị Nguyễn thị Hoài T xin ly hôn, nhưng anh P vắng mặt không có lý do và không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án biết.
Qua xác minh tại địa phương (UBND xã M) thì anh Hồ Tá P đang có hộ khẩu thường trú và đang làm ăn sinh sống tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, ®ång thời triệu tập hợp lệ nhiều lần anh Hồ Tá P đến Tòa án và Ủy ban nhân dân xã M để giải quyết việc chị Nguyễn Thị Hoài T xin ly hôn, nhưng anh Hồ Tá P vắng mặt không có lý do và không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án biết.
Qua xác minh tại địa phương (UBND xã M) thì anh Hồ Tá P đang có hộ khẩu thường trú và đang làm ăn sinh sống tại địa phương.
Anh Hồ Tá P được Tòa án triệu tập 02 lần đến tham gia tố tụng tại phiên tòa vào các ngày 28/5/2018 và ngày 13/6/2018, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, cần áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, xử vắng mặt anh Hồ Tá P là có căn cứ.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hoài T và anh Hồ Tá P yêu nhau tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 22/11/1996 tại UBND xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng về sống với bố mẹ anh P được 01 năm thì ra làm nhà ở riêng tại thôn M, xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh P uống rượu bia, đánh đập chị Thương nhiều lần. Nay chị Nguyễn Thị Hoài T cho mâu thuẫn vợ chồng quá trầm trọng, vợ chồng sống với nhau không còn tình cảm nên chị xin được ly hôn anh P.
Xét thấy, tình cảm vợ chồng chị Nguyễn Thị Hoài T và anh Hồ Tá P không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần xử cho chị Nguyễn Thị Hoài T được ly hôn anh Hồ Tá P là phù hợp với khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 luật Hôn nhân gia đình.
Về quan hệ con chung: Anh chị có một con chung là Hồ Tá P, sinh ngày 22/7/2005 hiện nay đang ở với chị Nguyễn Thị Hoài T. Sau khi ly hôn chị Nguyễn Thị Hoài T có nguyện vọng tiếp tục được chăm sóc, nuôi dưỡng con và không yêu cầu anh Hồ Tá P cấp dưỡng nuôi con. Sau khi thảo luận và nghị án Hội đồng xét xử xét thấy nguyện vọng của chị T là chính đáng, cần giao con Hồ Tá P, sinh ngày 22/7/2005 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp khoản 1, 2 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Anh Hồ Tá P không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con vì chị Thương không yêu cầu.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Hoài T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí ly hôn : Chị Nguyễn Thị Hoài T phải chịu theo luật định.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/Về quan hệ hôn nhân : Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 luật Hôn nhân gia đình, xử cho chị Nguyễn Thị Hoài T và anh Hồ Tá P được ly hôn nhau
2/Về con chung: Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, xử giao con Hồ Tá P, sinh ngày 22/7/2005 cho chị Nguyễn Thị Hoài T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con trưởng thành(18 tuổi). Anh Hồ Tá P không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con vì chị Nguyễn Thị Hoài T không yêu cầu. Anh Hồ Tá P có quyền thăm con theo quy định tại khoản 3 Điều 82 và khoản 2 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
3/Về án phí ly hôn sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, NghÞ quyÕt 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội xử: Chị Nguyễn Thị Hoài T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Quảng Bình theo biên lai số 0001719 ngày 14/3/2018.(Chị Nguyễn Thị Hoài T đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm)
Chị Nguyễn Thị Hoài T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (13/6/2018) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm; Anh Hồ Tá P có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án do Tòa án tống đạt hoặc ngày bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã, huyện L, tỉnh Quảng Bình nơi anh thường trú./.
| Nơi nhận : -VKS huyện Lệ Thủy; - Tòa án tỉnh Quảng Bình; - Chi cục THADS Lệ Thủy; - Các đương sự; - UBND xã M; - Lưu VP; HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SỞ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Nguyễn Văn Dương |