vanban.org

Bản án 19/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và

gia đình 2014; Điều 35, Điều 39, kho n 4 Điều 147, kho n 1 Điều 227, Điều 228 BLTTDS năm 2015; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đỗ Văn K - Vũ Thị N"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM THÀNH
TỈNH HẢI DƯƠNG
Bản án số: 19/2018/HNGĐ-ST

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ngày: 02/8/2018
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH - TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Thế Hưng.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đào Xuân Tìm.

2. Bà Nguyễn Thị Quy.

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Giang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim

Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành: Bà Bùi Thị Nhuần -

Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở TAND huyện Kim Thành xét xử sơ

thẩm công khai vụ án thụ lý số 25/2018/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm

2018, về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ

thẩm số 17/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 21/6/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số

24/2018/QĐST- HNGĐ ngày 17/7/2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Đỗ Văn K, sinh năm 1984;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Xóm 11 thôn T, xã K, huyện K,

t nh H i Dương.

- Bị đơn: Chị Vũ Thị N, sinh năm 1985;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm 11 thôn T, xã K, huyện K, t nh H i

Dương;

Nơi cư trú: Xóm 9 thôn V, xã K, huyện K, t nh H i Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn, b n tự khai, biên b n lấy lời khai anh Đỗ Văn K trình

bày: Anh và chị Vũ Thị N được tự do tìm hiểu nhau và tự nguyện đăng ký kết

hôn ngày 05/7/2007 tại UBND xã K, huyện K, t nh H i Dương. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc kho ng 7 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do: Trong cuộc sống vợ chồng có mâu thuẫn do chị N đối xử với gia đình nhà chồng không tốt; tính cách, quan điểm vợ chồng không phù hợp nên vợ chồng cũng có những mâu thuẫn nhỏ. Đến năm 2014 mâu thuẫn vợ chồng bắt đầu căng thẳng hơn do anh nghi ngờ chị N không chung thủy nhưng vì thương con nên anh bỏ qua. Nhưng đến năm 2015 và 2017 chị N vẫn tái diễn có những biểu hiện không chung thủy nên mâu thuẫn giữa vợ chồng vẫn tiếp diễn và ngày càng căng thẳng hơn. Do không chấp nhận một người vợ như vậy nên khoàng tháng 10/2017 anh đã yêu cầu chị N đi ra ngoài sống, không cho ở nhà anh nữa, vợ chồng ly thân từ đó đến nay, mỗi người một nơi. Đến nay anh xác định tình c m vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án gi i quyết cho anh ly hôn với chị Vũ Thị N.

Về con chung: anh K xác định vợ chồng có 02 con là Đỗ Thị Ph, sinh ngày

15/10/2009 và Đỗ B o N, sinh ngày 05/4/2013. Khi ly hôn anh K có nguyện vọng được nuôi dưỡng 02 con chung và tự nguyện không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con. Nếu anh không được nuôi c hai con thì mỗi vợ chồng nuôi một con, anh nuôi con nào cũng được, mỗi người nuôi một con nên không ai ph i cấp dưỡng nuôi con cho ai.

Về tài s n chung: anh K xác định để vợ chồng tự thỏa thuận nên không

đề nghị Tòa án gi i quyết. Về nợ chung: không có.

Theo b n tự khai, biên b n lấy lời khai chị Vũ Thị N trình bày: Chị và anh Đỗ

Văn K được tự do tìm hiểu nhau và tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 05/7/2007 tại UBND xã K, huyện K, t nh H i Dương. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc kho ng 8 năm thì phát sinh mâu thuân. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do: Anh K nghi ngờ về việc chị ngoại tình nhưng đây ch là sự hiểu nhầm. Vào năm 2014 có chị hàng xóm nhắn tin cho anh K nói rằng chị ngoại tình với chồng chị ta nhưng thực tế không ph i như vậy, dẫn đến vợ chồng chị cãi nhau, chị đã yêu cầu chị hàng xóm ph i xin lỗi và chị đã viết đơn lên UBND xã để tố cáo chị ta vu khống và bôi nhọ danh sự nhân phẩm của chị. Năm 2017 có người bạn nhắn tin trêu đùa chị nhưng anh K hiểu nhầm là chị ngoại tình với anh ta nhưng sự thật không ph i như vậy nên mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng căn thẳng hơn. Do vậy đến tháng 10 năm 2017 anh K đuổi chị ra khỏi nhà nên chị ph i ra ngoài thuê nhà ở tại xóm 9 thôn V, xã K sinh sống. Từ đó đến nay mỗi người sống một nơi. Tuy mâu thuẫn giữa vợ chồng như vậy nhưng chị vẫn yêu chồng nên không đồng ý ly hôn, đề nghị Tòa án hòa gi i cho vợ chồng đoàn tụ.

Về con chung: chị N xác định vợ chồng có 02 con là Đỗ Thị Ph, sinh ngày

15/10/2009 và Đỗ B o N, sinh ngày 05/4/2013. Khi ly hôn chị N có nguyện vọng được nuôi dưỡng 02 con chung và tự nguyện không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con. Nếu chị không được nuôi c hai con thì mỗi vợ chồng nuôi một con, chị xin nuôi cháu N, còn để anh K nuôi cháu Ph, không ai ph i cấp dưỡng

nuôi con cho ai.

Về tài s n chung: chị N xác định để vợ chồng tự thỏa thuận nên không đề

nghị Tòa án gi i quyết. Về nợ chung: không có.

Theo lời khai của cháu Đỗ Thị Ph: Hiện cháu đang ở với bố và ông bà nội

tại thôn Thiên Đông, cháu không muốn bố mẹ ly hôn, nếu bố mẹ ly hôn thì cháu

xin ở với mẹ.

Theo biên b n xác minh tại UBND xã K: Anh Đỗ Văn K và chị Vũ Thị N

đăng ký kết hôn tại UBND xã K vào ngày 05/7/2007. Trong cuộc sống vợ chồng

có mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu do tình c m nên vợ chồng hay xẩy ra mâu

thuẫn. Địa phương đã hòa gi i cho anh chị ấy nhiều lần nhưng không thành, hiện

chị N đã ra ngoài thuê nhà sống riêng từ năm 2017 đến nay.

Theo lời khai của ông Nguyễn Văn Ch là trưởng thôn T cung cấp: Vợ chồng

K N có mâu thuẫn, nguyên nhân là do mâu thuẫn về tình c m, vợ chồng hay cãi

nhau, nhiều lần anh K đuổi chị N ra khỏi nhà. Thôn đã hòa gi i cho vợ chồng K N

nhiều lần nhưng không thành. Kho ng năm 2017 chị N đã ra ngoài thuê nhà sống

riêng, từ đó đến nay không sống ở nhà chồng nữa.

Theo lời khai của ông Đỗ Ái D cung cấp: Vợ chồng K N có mâu thuẫn,

nguyên nhân do chị N không chung thủy nên vợ chồng hay cãi nhau, ngoài mâu

thuẫn giữa vợ chồng thì chị N còn mâu thuẫn với gia đình nhà chồng nên mâu thuẫn

vợ chồng ngày càng căng thẳng. Kho ng cuối năm 2017 chị N đã ra ngoài thuê nhà

ở, từ đó đến nay không về nhà ông sống nữa.

Tại phiên tòa anh Đỗ Văn K vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt và giữ

nguyên quan điểm. Chị Vũ Thị N có mặt và giữ nguyên quan điểm.

Đại diện VKSND huyện Kim Thành phát biểu quan điểm xác định những

người tiến hành tố tụng và nguyên đơnđã thực hiện đúng các quy định của pháp

luật, bị đơn thực hiện không đúng các quy định của pháp luật. Anh Đỗ Văn K có

đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đề nghị tòa án áp dụng kho n 1 Điều 227

BLTTDS xử vắng mặt anh K.

- Về hướng gi i quyết vụ án: đề nghị TAND huyện Kim Thành áp dụng

Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho anh Đỗ Văn K được ly hôn chị

Vũ Thị N; Về con chung: để vợ chồng mỗi người nuôi một con, anh K nuôi con

Đỗ B o N, còn chị N nuôi con Đỗ Thị Ph; Về tài s n chung và nợ chung: đương

sự không yêu cầu nên không xem xét; Nguyên đơn ph i chịu án phí HNGĐ sơ

thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra công khai

tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Các đương sự đều cư trú tại xã K, huyện Kim Thành, t nh

H i Dương nên yêu cầu xin ly hôn của anh Đỗ Văn K theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 BLTTDS thuộc thẩm quyền gi i quyết của TAND huyện Kim Thành. Anh Đỗ Văn K có đơn xin xét xử vắng mặt nên HĐXX xét xử vắng mặt anh K là phù hợp với quy định tại kho n 1 Điều 227 BLTTDS.

Về yêu cầu xin ly hôn: Anh Đỗ Văn K và anh Vũ Thị N được tự do

tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 05/7/2007 tại UBND xã K, huyện K, t nh H i Dương nên là hôn nhân hợp pháp.

Căn cứ vào các lời khai của anh K, chị N, biên b n xác minh và các lời

khai của các người làm chứng xác định vợ chồng K N có mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng nghi ngờ về mặt tình c m, anh K cho rằng chị N không chung thủy nên vợ chồng hay cãi nhau, mâu thuẫn giữa anh chị ngày càng căng thẳng, nhiều lần gia đình cũng như địa phương đã hòa gi i nhưng mâu thuẫn vợ chồng vẫn không khắc phục được. Từ tháng 10/2017 đến nay vợ chồng sống ly thân, mỗi người một nơi, Tòa án đã cho anh chị thời gian để hòa gi i nhưng mâu thuẫn giữa anh chị ngày càng căng thẳng hơn, anh K vẫn kiên quyết xin ly hôn không muốn đoàn tụ, chị N không đồng ý ly hôn muốn vợ chồng đoàn tụ nhưng không có biện pháp gì để khắc phục mâu thuẫn vợ chồng. Từ những phân tích trên, HĐXX thấy rằng tình trạng hôn nhân của vợ chồng K N đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, đời sống chung không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh K, xử cho anh K được ly hôn chị N là phù hợp thực tế và các quy định của Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: anh K và chị N xác định vợ chồng có 02 con là Đỗ Thị

Ph, sinh ngày 15/10/2009 và Đỗ B o N, sinh ngày 05/4/2013. Khi ly hôn anh chị đều có nguyện vọng được nuôi c 02 con và tự nguyện không yêu cầu người kia cấp dưỡng nuôi con. Trong trường hợp không được nuôi c 02 con thì anh K xin được nuôi con nào cũng được, còn chị N có quan điểm xin nuôi cháu Ph để anh K nuôi cháu N. Xét thấy nguyện vọng được nuôi con của anh K và chị N đều chính đáng, anh chị đều có việc làm ổn định, có thu nhập nên có thể đ m b o cho con về mặt vật chất. Tuy nhiên, vợ chồng có 02 con và ai cũng muốn nuôi con nên HĐXX xem xét giao mỗi con cho một người nuôi để đ m b o cho mỗi con được nuôi dưỡng tốt và được đ m b o đầy đủ về mặt chất lẫn tinh thần cũng như đ m b o được quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên của c anh K và chị N. Cháu Ph có nguyện vọng được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn, do vậy HĐXX giao cháu Đỗ Thị Ph, sinh ngày 15/10/2009 cho chị N nuôi dưỡng và giao cháu Đỗ B o N, sinh ngày 05/4/2013 cho anh K nuôi dưỡng, là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Vì mỗi người nuôi dưỡng một con nên không

ai ph i cấp dưỡng nuôi con cho ai.

Về tài s n chung, nợ chung: Anh K và chị N đều xác định vợ chồng tự

thỏa thuận về tài s n chung không đề nghị Tòa án gi i quyết; Còn về nợ chung

thì vợ chồng không vay nợ ai và không cho ai vay nợ, do vậy HĐXX không xem

xét.

Về án phí: Nguyên đơn ph i chịu c án phí sơ thẩm ly hôn theo quy

định tại kho n 4 Điều 147 BLTTDS và Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của

UBTVQH.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và

gia đình 2014; Điều 35, Điều 39, kho n 4 Điều 147, kho n 1 Điều 227, Điều 228

BLTTDS năm 2015; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH.

2. Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Đỗ Văn K: Xử cho anh Đỗ Văn K ly

hôn chị Vũ Thị N.

- Về con chung: giao con Đỗ B o N, sinh ngày 05/4/2013 cho anh Đỗ Văn

K trực tiếp nuôi dưỡng, giao con Đỗ Thị Ph, sinh ngày 15/10/2009 cho chị Vũ

Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, kể từ tháng 8/2018 đến khi mỗi con chung đủ 18

tuổi. Không ai ph i cấp dưỡng nuôi con cho ai.

Không ai được ngăn c n quyền gặp gỡ, thăm nom con chung.

- Về án phí: Anh Đỗ Văn K ph i chịu 300.000đ án phí Hôn nhân và gia đình

sơ thẩm, được đối trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí anh đã nộp theo biên lai số

AA/2016/0000724 ngày 30/01/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim

Thành. Anh K đã nộp đủ án phí.

Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt nguyên đơn, có mặt bị đơn. Báo cho anh

Đỗ Văn K biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được

b n án hoặc b n án được niêm yết; báo cho chị Vũ Thị N biết được quyền kháng cáo

trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án./.

Cỡ chữ