vanban.org

Bản án 19/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Đăk Pơ, tỉnh Gia Lai Tuyên án 15/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Ngọc D và đồng bọn bị VKSND huyện D truy tố về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 143 của Bộ luật Hình sự - phạm tộ…"
  • Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒ A Á N NHÂN DÂN
HUYỆN ĐAK PƠ - TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2017/HSST
Ngày: 15/9/2017

NHÂN DANH

NƯỚ C CỘNG HÒ A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAṂ

TOÀ Á N NHÂN DÂN HUYỆN ĐAK PƠ, TỈNH GIA LAI

Vớ i thành phần Hội đồng xé t xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phá n - Chủ tọa phiên tò a: Bà Trịnh Thị Yến Ngọc.

Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Thái Đình Hà - Hiệu trưởng trường Trung học cơ sở Trần Quốc

Tuấn, huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai.

2. Ông Trần Vi Tình - Phó bí thư Huyện đoàn Đak Pơ, tỉnh Gia Lai.

Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Ngọc Mai - Thư ký Toà án nhân dân huyê ̣n

Đak Pơ, tỉnh Gia Lai.

Đại diê ̣n Viê ̣n kiểm sá t nhân dân huyê ̣n Đak Pơ, tinh Gia Lai tham gia

̉ phiên tòa: Ông Phạm Văn Phụng - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 9 năm 2017 ta ̣i trụ sở Ủy ban nhân dân thị trấn ĐP, huyện

Đ, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm vu ̣ án hinh sự thu ̣ lý số: 15/2017/HSST ngày

̀

09/8/2017 đối vớ i các bi ̣ cáo:

1.Vũ Ngọc D, Sinh ngày: 17/10/2000, tại tỉnh TB; trú tại: tổ dân phố B, thị

trấn ĐP, huyện ĐP, Gia Lai; Nghề nghiê ̣p: Học sinh; Trinh đô ̣ văn hóa: 11/12; Con

̀ ông Vũ Văn N, sinh năm 1980 và bà Trần Thị H, sinh năm: 1979, gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con lớn trong gia đình; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

2. Trần Cao M, sinh ngày 07/12/2000, tại tỉnh GL; trú tại: tổ dân phố H, thị

trấn ĐP, huyện Đ, Gia Lai; nghề nghiê ̣p: Học sinh; Trinh đô ̣ văn hóa: 11/12; Con

̀ ông Trần Văn Tr, sinh năm 1974 và bà Phạm Thị HA, sinh năm: 1978, gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Vũ Ngọc D: Ông Vũ Văn N, sinh năm

1980, trú tại: tổ dân phố B, thị trấn ĐP, huyện Đ, Gia Lai. Có mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Cao M: Ông Trần Văn Tr, sinh

năm 1974, trú tại: tổ dân phố H, thị trấn ĐP, huyện Đ, Gia Lai. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Đức T, sinh ngày 08/7/2001.

Có mặt.

Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Đức T: Bà Vũ Thị M, sinh năm 1983,

trú tại: tổ dân phố H, thị trấn ĐP, huyện Đ, Gia Lai. Có mặt.

* Nguyên đơn dân sự: Công ty TNHH Vận tải và Du lịch TTGL. Địa chỉ:

77 ĐTH, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trương Văn L, sinh năm: 1955; trú tại:

115 TTT, phường TN, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

́

NHẬN THÂY

Các bi ̣ cáo Vũ Ngọc D và Trần Cao M bi ̣ Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyê ̣n

Đak Pơ, tỉnh Gia Lai truy tố về hành vi pha ̣m tô ̣i như sau:

Vào khoảng 16 giờ ngày 07/05/2017, Vũ Ngọc D, Trần Cao M và Nguyễn

Đức T chơi game tại quán HA, thuộc tổ H, thị trấn ĐP, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Đến 19 giờ cùng ngày thì nghỉ, D gọi điện thoại cho Trần Xuân B, Phạm Trung N, Bùi Đức L ra công viên huyện Đ chơi, đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì tất cả rủ nhau về nhà Trần Xuân B chơi. B điều khiển xe mô tô của B chở Nguyên và Lâm về trước, còn D điều khiển xe mô tô BKS 81AD-005.81 chở M và T đi sau, khi đến ngã 3 Quốc lộ 19 đường Hùng Vương với đường KpaKơLơng thuộc tổ 2, thị trấn ĐP, huyện Đ thì D dừng xe lại, D nói với M và T “tí nữa có xe ô tô khách đi qua bọn mình lấy đá ném kính xe khách cho vui” thì M và T đồng ý, D, M, T nhặt dưới đất cầm trên tay mỗi người một cục đá cứng, chắc, tròn to B lòng bàn tay. Đến khoảng 21 giờ 45 phút thì tất cả phát hiện có xe khách giường nằm TT BKS 81B-01.279 của Công ty trách nhiệm hữu hạn vận tải và du lịch TTGL do Nguyễn Văn K điều khiển chạy hướng Gia Lai - Bình Định, khi chạy đến gần chỗ D, M, T đang đứng, thì D dùng đá ném mạnh vào kính chắn gió bên phụ (bên phải xe ô tô) đồng thời hô to “ném đá”, thấy D cầm đá ném, M và T cũng ném đá theo trúng vào kính chắn gió phía bên phụ, làm vỡ 02 tấm kính chắn gió bên hông xe ô tô khách. Xe ô tô chạy thêm khoảng 200m thì dừng lại. Thấy xe ô tô dừng lại thì D điều khiển xe mô tô chở M và T bỏ chạy về nhà của B chơi. Sau khi dừng xe ô tô lại thì anh Nguyễn Văn K đến Công an huyện Đak Pơ trình báo và yêu cầu điều tra, xử lý vụ việc theo quy định pháp luật.

Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 16/5/2017 của Hội đồng định giá tài

sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: Giá trị thiệt hại 02 tấm kính chắn gió bên hông của xe ô tô BKS 81B-012.79 (nhãn hiệu: THACO, loại xe: TB120SL-W375I, màu sơn: trắng - xanh, số máy: WP12.375N*1416D025502*, số khung: RN5B46SCCGC006407) tại thời điểm ngày 07/5/2017 là 10.800.000 đồng.

Về phần dân sự: Đại diện của Công ty Trách nhiệm hữu hạn vận tải và du

lịch TTGL là ông Trương Văn L yêu cầu các bị cáo Vũ Ngọc D, Trần Cao M và đối tượng liên quan Nguyễn Đức T bồi thường thiệt hại đã gây ra với số tiền là 10.800.000 đồng. Gia đình Vũ Ngọc D, Trần Cao M và Nguyễn Đức T đã bồi thường cho Công ty TT toàn bộ số tiền trên. Sau khi nhận tiền bồi thường ông Trương Văn L không yêu cầu bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho Vũ Ngọc D, Trần Cao M.

Ta ̣i bản cáo tra ̣ng số: 14/CTr-VKS ngày 09/8/2017 của Viê ̣n kiểm sát nhân

dân huyê ̣n Đ, tỉnh Gia Lai đa truy tỗ

́ bi ̣ cáo Vũ Ngọc D và Trần Cao M về tô ̣i “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 143 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ giữ nguyên Quyết

định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc D và Trần Cao M phạm tô ̣i: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 143; Điều 20; Điều 53; Điều 69; Điều 71; Điều 31; Điều 73; điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Ngọc D từ 10 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ; bị cáo Trần Cao M từ 7 đến 9 tháng cải tạo không giam giữ.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ

vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

́

XÉ T THÂY

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình phù hợp với

tài liệu, chứng cứ đã thu thập có được trong hồ sơ vụ án, vì vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 21 giờ 45 phút ngày 07/5/2017 tại tổ dân phố H, thị trấn ĐP, huyện Đ các bị cáo Vũ Ngọc D, Trần Cao M và đối tượng liên quan Nguyễn Đức T có hành vi dùng đá ném vỡ 02 tấm kính chắn gió xe ô tô khách biển kiểm soát 81B-01279 của Công ty TNHH Vận tải và Du lịch TTGL trị giá 10.800.000đ (Mười triệu tám trăm nghìn đồng). Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 143 của Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo đều nhận thức được mọi tài sản của cá nhân, tổ chức đều được

pháp luật bảo vệ, bất cứ ai có hành vi xâm phạm đều bị xử lý. Nhưng các bị cáo đã tỏ thái độ xem thường pháp luật, đã thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với mức độ, hậu quả gây ra. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những gây thiệt hại cho người khác mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn. Do đó phải xử lý các bị cáo mức hình phạt thật nghiêm khắc để răn đe, giáo dục các bị cáo đồng thời là bài học cảnh tỉnh chung cho bất cứ những ai có thái độ coi thường pháp luật.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự chuẩn bị cũng như

không có sự phân công bàn bạc với nhau. Bị cáo D là người khởi xướng đồng thời thực hiện hành vi một cách tích cực nhất nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự nặng hơn so với bị cáo M.

Các bị cáo đều có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, trong quá trình điều tra

cũng như tại phiên tòa hôm nay thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, đã tác động gia đình khắc phục thiệt hại cho công ty TNHH Vận tải và Du lịch TTGL; nguyên đơn dân sự xin giảm nhẹ hình phạt cho cáo bị cáo để các bị cáo có điều kiện học tập, trở thành công dân tốt cho xã hội. Vì vậy áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.

Khi thực hiện tội phạm bị cáo Vũ Ngọc D được 16 tuổi 6 tháng 20 ngày; bị

cáo Trần Cao M được 16 tuổi 5 tháng là người chưa thành niên nên cần áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội. Đối tượng Nguyễn Đức T, sinh ngày 08/7/2001 lúc vi phạm 15 tuổi 10 tháng chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, UBND thị trấn Đak Pơ đã ra Quyết định xử phạt giáo dục tại xã, phường, thị trấn là đúng quy định pháp luật nên không đề cập đến. Hội đồng xét xử xét thấy áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo bên cạnh sự giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục đồng thời thể hiện T nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa. Các bị cáo là người chưa thành niên nên không áp dụng khấu trừ thu nhập cá nhân.

Về trách nhiệm dân sự: nguyên đơn dân sự không có yêu cầu gì thêm nên

không xem xét.

Về xử lý vật chứng: các vật chứng trong vụ án không có giá trị nên tịch thu

tiêu hủy.

Về án phi: Bi ̣ cáo Vũ Ngọc D và Trần Cao M phải chi ̣u án phi hinh sự sơ

́

́ ̀ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.

Vì các lẽ trên,

́

QUYÊT ĐI ̣NH:

1. Tuyên bố các bi ̣ cáo Vũ Ngọc D và Trần Cao M pha ̣m tô ̣i “Cố ý làm hư

hỏng tài sản”.

2. Á p du ̣ng khoản 1 Điều 143; Điều 20; Điều 53; Điều 69; Điều 71; Điều

31; Điều 73; điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc D 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ; xử phạt

bị cáo Trần Cao M 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ T từ ngày cơ quan được giao giám sát bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao các bị cáo Vũ Ngọc D và Trần Cao M cho Ủy ban nhân dân thị trấn

ĐP, huyện Đ, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.

3. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy các vật chứng trong vụ án là 01 (Một) cục đá màu nâu

xám, không rõ hình, diện kích thước (10 x 16)cm; 01 (Một) cục đá màu nâu xám, không rõ hình, diện kích thước (8 x 7,5)cm; 01 (Một) cục đá màu nâu xám, không rõ hình, diện kích thước (8,5 x 8)cm.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/8/2017 giữa Cơ quan Cảnh sát

điều tra Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ).

4. Áp dụng khoản 2 Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều

23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử buộc bị cáo Vũ Ngọc D và Trần Cao M mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ

(Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Trong thờ i ha ̣n 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (15/9/2017) bi ̣ cáo; người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; nguyên đơn dân sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tinh Gia Lai xét xử phúc thẩm.

̉

̀

̉ Nơi nhận:

Cỡ chữ