vanban.org

Bản án 189/HSST — Hình sự

TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 27/11/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Huy P phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”;

Xử phạt bị cáo Phạm Huy P 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/6/2020 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Huy P phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 189/2020/HSST
Ngày: 27 -11- 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Nguyễn Anh Tuấn

2. Bà Võ Thị Mai

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Lê Quỳnh Thư Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Sỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2020 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 201/2020/HSST ngày 09 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 214/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:

Phạm Huy P, giới tính: Nam, sinh năm 1989 tại tỉnh Đồng Nai; Hộ khẩu thường trú: Thôn Bình Đê, xã Hoài Châu Bắc, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định và nơi cư trú: 100/34 Đường số 03, Phường 09, quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh; quốc tịch : Việt Nam; dân tộc : kinh ; tôn giáo: Thiên chúa; Nghề nghiệp: thợ hồ; Trình độ văn hóa: 09/12; Con ông Phạm Huy Bình (sinh năm 1960) và bà Lý Thị Kim Xuân (sinh năm 1966); Hoàn cảnh gia đình: có vợ tên Trần Ngọc Thanh Thúy, sinh năm 1995; có 02 sinh năm 2015 và 01 con sinh năm 2016; Tiền sự: không; Tiền án: không; Bị cáo bị bắt và tạm giam ngày 01/6/2020 (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan :

- Anh Phạm Văn T, sinh năm 1976; trú tại : 81/22 Đường 59, phường 14, quận Gò Vấp (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 11 giờ 00 phút ngày 01/6/2020, tại trước nhà số 497 Phạm Văn Chiêu, phường 13, quận Gò Vấp, TP.Hồ Chí Minh, Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma Túy kết hợp Công an phường 13, quận Gò Vấp bắt quả tang Phạm Huy P (sinh năm: 1989); nơi cư trú: thôn Bình Đê, xã Hoài Châu Bắc, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định; Chỗ ở: 100/34 Đường số 3, Phường 9, quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh đang cất giấu trong người 01 gói nylon bên trong có chứa tinh thể không màu (P khai là Ma túy tổng hợp) nên đã đưa P về Công an phường lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Huy P khai nhận: Khoảng 08 giờ, ngày 01/6/2020, P gặp anh K (không rõ lai lịch) tại khu vực đường Lâm Văn Bền, Quận 7 chơi được một lúc thì anh K nhờ P gọi điện thoại cho một nam thanh niên tên D (không rõ lai lịch) để giao giùm cho D gói đồ (đồ gì thì anh K không nói, chỉ nói với P là gặp D rồi sẽ biết rõ). P đồng ý và anh K đưa số điện thoại di động 0794945411 của D cho P. Anh K dặn P gọi cho D để nhận gói đồ đi giao. Sau đó P dùng điện thoại di động số 0939791942 gọi vào điện thoại di động của D thì D nói P đến trước hẻm 1224 đường Lê Đức Thọ, Phường 13, quận Gò Vấp thì gọi cho D. P đồng ý và một mình điều khiển xe máy biển số: 59V1 - 793.41 đi từ khu vực đường Lâm Văn Bền, Quận 7 đến điểm hẹn gặp D. Tại điểm hẹn, P gọi điện thoại cho D thì lúc này D đi bộ từ trong hẻm 1224 Lê Đức Thọ, Phường 13, quận Gò Vấp ra đưa cho P một hộp giấy màu vàng được cột dây thun bên ngoài và D nói với P là đi giao gói đồ này đến quán Cafe Milano địa chỉ 497 đường Phạm Văn Chiêu, Phường 13, quận Gò Vấp cho một nam thanh niên tên Trực (không rõ lai lịch) rồi lấy của Trực số tiền 2.200.000 đồng về đưa lại cho D. Vì không biết bên trong hộp giấy màu vàng mà D đưa cho P có chứa gì nên P đã hỏi D là đi giao gì thì D nói bên trong hộp giấy màu vàng là ma túy tổng hợp, D nhờ P đi giao cho Trực và lấy tiền về cho D. D nói với P sau khi xong việc D sẽ trả công cho P. Do đang cần tiền để đóng tiền thuê nhà nên P đã đồng ý và nhận hộp giấy màu vàng bên trong có chứa ma túy tổng hợp rồi cất giấu vào hộc để đồ bên trái phía trước xe mà P đang điều khiển để đi giao. Khi P điều khiển xe máy đến trước quán Cafe Milano địa chỉ 497 đường Phạm Văn Chiêu, Phường 13, quận Gò Vấp thì bị Tổ công tác dừng xe kiểm tra, phát hiện P cất giấu trong hộc để đồ bên trái phía trước xe máy P đang điều khiển có 01 hộp giấy màu vàng được cột dây thun bên ngoài, bên trong có 01 gói nylon chứa ma túy nên đã thu giữ, niêm phong tang vật, bắt giữ P đưa về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang như đã nêu trên.

Đối với người thanh niên tên D đã đưa ma túy cho P, Cơ quan điều tra đã gửi Công văn xác minh đến Tổng công ty Viễn thông Mobifone để xác minh chủ thuê bao số điện thoại 0794945411 nhưng chưa nhận được kết quả trả lời. Riêng tên K và Trực chưa xác định được lai lịch nên không có cơ sở để xử lý.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, gói bên ngoài có chữ ký ghi tên Phạm Huy P và hình dấu của Công an phường 13, quận Gò Vấp. Tại bản kết luận giám định số 927/KL ngày 09/6/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP. Hồ Chí Minh xác định là ma túy ở thể rắn có khối lượng 4,9786 gam, loại Methamphetamine.

- 01 xe máy biển số: 59V1 - 793.41, số máy: JF46E - 4133376; số khung: RLHJF4607DY272537. Kết quả trả lời xác minh của Đội Cảnh sát giao thông - Công an quận Gò Vấp xác định, chủ xe máy biển số 59V1 - 793.41; số máy: JF46E

- 4133376; số khung: RLHJF4607DY272537 là Phạm Văn T; địa chỉ: 43/2 Đường số 56, Phường 14, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Phạm Văn T khai nhận: Vào ngày 01/6/2020, Phạm Huy P có hỏi mượn T chiếc xe máy nêu trên để đi công việc, khi xong việc sẽ về trả xe cho T. P không nói cho T biết việc P sẽ sử dụng xe đi giao ma túy. T đồng ý cho P mượn xe máy. Lời khai của T phù hợp với lời khai của Phạm Huy P. Như vậy, T không biết và không liên quan đến việc P đi giao ma túy .

- 01 ĐTDĐ hiệu Vivo số sim 0939791942.

Cơ quan điều tra nhập kho vật chứng chuyển vật chứng theo hồ sơ vụ án để xử lý chung.

Tại bản cáo trạng số 196/Ctr-VKS, ngày 30/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố bị cáo Phạm Huy P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phạm Huy P đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp sau khi phân tích nội dung vụ án, những tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, các tình tiết định tội, định khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Phạm Huy P mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

- Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

- Tịch thu tiêu hủy 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, gói bên ngoài có chữ ký ghi tên Phạm Huy P và hình dấu của Công an phường 13, quận Gò Vấp

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 ĐTDĐ hiệu Vivo số sim 0939791942.

- Trả lại cho anh Phạm Văn T 01 xe máy biển số: 59V1 - 793.41, số máy: JF46E - 4133376; số khung: RLHJF4607DY272537

Qua ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo nhất trí và không có ý kiến tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với Biên bản phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, cùng với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận Gò Vấp, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại Tại bản kết luận giám định số 927/KL ngày 09/6/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP. Hồ Chí Minh xác định 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, gói bên ngoài có chữ ký ghi tên Phạm Huy P và hình dấu của Công an phường 13, quận Gò Vấp là ma túy ở thể rắn có khối lượng 4,9786 gam, loại Methamphetamine.

Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Phạm Huy P đã phạm vào tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt trừng trị được quy định tại Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, đã xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, đã xâm phạm và làm ảnh hưởng đến chính sách quản lý kinh tế, an ninh quốc gia, gây mất trật tự trị an xã hội. Mặc dù bị cáo nhận thức được việc mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng do lười lao động, cần tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo vẫn ngang nhiên mua bán trái phép chất ma tuý bất chấp những quy định của pháp luật, bất chấp mọi hậu quả xảy ra kể cả việc trừng trị của pháp luật. Bản thân bị cáo biết rõ bên trong hộp giấy D đưa có đựng ma túy nhưng bị cáo vẫn giúp đối tượng D (không rõ lai lịch) đi giao cho đối tượng mua ma túy nhằm mục đích thu lợi. Vì vậy, cần thiết phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm tạo điều kiện cho bị cáo từ bỏ việc mua bán ma túy phấn đấu trở thành người tốt hơn sau này biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo một số tình tiết: Tại cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên tòa hôm nay bị cáo đã thật thà khai báo, thành khẩn nhận tội, bị cáo chưa có tiền án tiền sự, gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động có hoàn cảnh khó khăn để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự, xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

Đối với người thanh niên tên D đã đưa ma túy cho P, Cơ quan điều tra đã gửi Công văn xác minh đến Tổng công ty Viễn thông Mobifone để xác minh chủ thuê bao số điện thoại 0794945411 nhưng chưa nhận được kết quả trả lời. Đối tượng D, K và Trực do chưa xác định được lai lịch nên chưa có cơ sở để xử lý, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.

Về xử lý vật chứng:

- 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, gói bên ngoài có chữ ký ghi tên Phạm Huy P và hình dấu của Công an phường 13, quận Gò Vấp. Tại bản kết luận giám định số 927/KL ngày 09/6/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP. Hồ Chí Minh xác định là ma túy ở thể rắn có khối lượng 4,9786 gam, loại Methamphetamine là ma túy tổng hợp Nhà nước cấm lưu hành, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.

- 01 xe máy biển số: 59V1 - 793.41, số máy: JF46E - 4133376; số khung: RLHJF4607DY272537. Qua xác minh, chiếc xe là của anh Phạm Văn T. Tại Cơ quan điều tra, Phạm Văn T khai nhận: Vào ngày 01/6/2020, Phạm Huy P có hỏi mượn T chiếc xe máy nêu trên để đi công việc, khi xong việc sẽ về trả xe cho T. P không nói cho T biết việc P sẽ sử dụng xe đi giao ma túy. Lời khai của anh T phù hợp với lời khai của bị cáo. Xét, anh T cho bị cáo mượn xe nhưng không biết và không liên quan đến việc P đi giao ma túy nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại chiếc xe trên cho chủ sở hữu là anh Phạm Văn T.

- 01 ĐTDĐ hiệu Vivo số sim 0939791942. Bị cáo đã sử dụng chiếc điện thoại liên lạc thực hiện hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phạm Huy P phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”;

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Phạm Huy P 03 (ba) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 01/6/2020

Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và khỏan 1, 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, gói bên ngoài có chữ ký ghi tên Phạm Huy P và hình dấu của Công an phường 13, quận Gò Vấp

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 ĐTDĐ hiệu Vivo số sim 0939791942.

- Trả lại cho anh Phạm Văn T 01 xe máy biển số: 59V1 - 793.41, số máy: JF46E - 4133376; số khung: RLHJF4607DY272537

(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 147/PNK ngày 16/7/2020 của Công an quận Gò Vấp)

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 ; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13, ngày 25/11/2015 của Quốc Hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

Bị cáo và người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND TPHCM;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Chi cục thi hành án quận Gò Vấp;

- Công an quận Gò Vấp;

- Viện kiểm sát quận Gò Vấp;

- Người tham gia tố tụng;

- Bị cáo;

- PC27 công an TPHCM;

- THA hình sự;

- Lưu.

Phạm Thị Hương

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Thực hiện theo tinh thần của Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015, Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc Hội và Công văn số 276/TANDTC –PC ngày 13/9/2016 của Tòa án nhân dân Tối cao về việc áp dụng một số quy định có lợi cho người phạm tội. Đối chiếu mức hình phạt của Bộ luật Hình sự năm 1999 với Bộ luật Hình sự năm 2015 thì mức hình phạt của Bộ luật Hình sự năm 2015 có lợi hơn cho bị cáo nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét cho bị cáo khi lượng hình.

Cỡ chữ