- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn H phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 27 (hai mươi bảy) tháng tù.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 189/2024/HS-ST. Ngày 13-12-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thanh Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Hoa và ông Nguyễn Minh Đức.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 184/2024/TLST-HS ngày 22/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 188/2024/QĐXXST-HS ngày 02/12/2024; Quyết định thay đổi Hội thẩm chuẩn bị xét xử vụ án hình sự số: 16/2024/QĐ-TA ngày 05/12/2024 đối với bị cáo:
Phạm Văn H, sinh năm 1995 tại Nghệ An; nơi ĐKTT: Xóm K, xã N, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; nơi ở: Thôn L, xã T, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn V (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Ngô Thúy L, sinh năm 1998 và 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị bắt, tạm giữ ngày 04/10/2024, tạm giam từ ngày 07/10/2024 đến nay; có mặt.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1992; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 04/10/2024, Phạm Văn H xuống xe khách tại khu vực cầu vượt Liêm Tuyền thuộc tổ dân phố Thá, phường Liêm Chính, thành phố Phủ Lý sau đó đi bộ tìm mua ma túy để sử dụng. Đi được một đoạn, H gặp một người đàn ông không quen biết khoảng 35 tuổi, trong lúc nói chuyện H hỏi người này: “Có biết chỗ nào mua ma túy đá không?”, người đàn ông hỏi lại: “Em lấy bao nhiêu thì đưa tiền đây anh lấy cho?”, H liền trả lời: “Anh lấy hộ em hai trăm” rồi lấy ra số tiền 200.000đồng đưa cho người này. Người đàn ông cầm tiền, bảo H lên xe máy rồi chở H đi mua ma túy. Khi đi đến quán nước ven đường thuộc khu vực xóm 4, xã Liêm Chung, thành phố Phủ Lý, người đàn ông dừng xe lại bảo H xuống xe vào quán nước đứng đợi rồi điều khiển xe đi tiếp. Khoảng 30 phút sau người đàn ông quay lại đưa cho H một túi nilon màu trắng, nói: “Hàng đây cầm lấy” rồi bỏ đi. Biết đó là túi ma túy nên H liền cầm lấy, cất vào trong túi áo ngực bên trái đang mặc rồi đi tìm nơi để sử dụng. Đi được một đoạn thì H bị tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế, ma túy Công an thành phố Phủ Lý kiểm tra hành chính, phát hiện thấy H cất giấu ma túy nên lực lượng Công an đã lập biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang và thu giữ tang vật theo quy định.
Vật chứng thu giữ của vụ án gồm: 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01.
Tại bản Kết luận giám định số: 793/KL-KTHS ngày 09/10/2024, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam đã kết luận: “Chất tinh thể màu trắng trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,563 gam, loại Methamphetamine”.
Bản Cáo trạng số: 187/CT-VKS-PL ngày 20/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đã truy tố Phạm Văn H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý thực hành quyền công tố Nhà nước giữ nguyên quan điểm không thay đổi về nội dung đã truy tố đối với bị cáo Phạm Văn H, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Hình phạt chính: Xử phạt Phạm Văn H từ 30 tháng đến 36 tháng tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Xử lý vật chứng của vụ án theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Phạm Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được Cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ của vụ án được thẩm tra tại phiên tòa như biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 04/10/2024, tại khu vực xóm 4, xã Liêm Chung, thành phố Phủ Lý, Phạm Văn H bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế, ma túy Công an thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam phát hiện, bắt giữ quả tang đang cất giấu trái phép 0,563 gam chất ma túy loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
4.1. Về nhân thân: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; nhân thân tốt; bản thân chưa có tiền án, tiền sự.
4.2. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định của Bộ Luật Hình sự.
4.3. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt:
5.1. Hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mức độ nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và các chất gây nghiện trực tiếp là các hoạt động cất giữ, tàng trữ chất ma túy, gây mất trật tự, an toàn cho xã hội, làm nảy sinh tệ nạn ma túy là mầm mống, nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Vì vậy, cần có mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích, đồng thời nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh ngăn chặn, phòng ngừa tội phạm.
5.2. Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và tài sản riêng; phạm tội không vì mục đích vụ lợi nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung (như phạt tiền, tịch thu tài sản…) đối với bị cáo.
Về tình tiết khác của vụ án: Đối với người đàn ông khoảng 35 tuổi gặp ở khu vực tổ dân phố Thá, phường Liêm Chính, thành phố Phủ Lý theo bị cáo khai là người đã đi mua ma túy đưa cho bị cáo để cất giấu, do quá trình điều tra Cơ quan điều tra phối hợp với Công an khu vực tiến hành xác minh làm rõ nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ của người này, ngoài lời khai của bị cáo ra thì không còn có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật là có căn cứ.
Về xử lý vật chứng đã thu giữ: Đối với toàn bộ số Methamphetamine hoàn trả sau giám định cùng bao gói là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 329, 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/10/2024.
2. Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì được niêm phong số: 793/KTHS, mặt trước phong bì ghi:“Mẫu vật hoàn trả QT01”, mặt sau phong bì có chữ ký, dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam.
Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý ngày 25/11/2024.
3. Án phí: Bị cáo Phạm Văn H nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - VKSND thành phố Phủ Lý; - Cơ quan CSĐT Công an thành phố Phủ Lý; - Cơ quan THAHS Công an thành phố Phủ Lý; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; - Chi cục THADS thành phố Phủ Lý; - Bị cáo Phạm Văn H; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Thanh Sơn |